Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

SỰ NGUY HIỂM KHI ĐỂ NHẬT BẢN ĐỐI PHÓ MỘT MÌNH QUÁ LÂU VỚI TRUNG QUỐC


Trung Quốc- Nhật Bản là 2 cường quốc hùng mạnh nhất nhì khu vực chứ không phải 2 sắc tộc, bộ lạc nào để Mỹ hay tổ chức nào trên thế giới có thể dùng áp lực ngăn cản, kiểm soát khi cuộc chiến giữa họ xảy ra. Lúc đó, thì Mỹ chỉ có một lựa chọn duy nhất là trực tiếp vào cuộc chứ không còn cách nào khác.
Tại khu vực Châu Á-TBD, tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với một loạt quốc gia đã tạo ra những điểm nóng tiềm ẩn khả năng xung đột quân sự cao, khó kiểm soát.
Mỹ, một mặt tỏ ra trung lập để giữ mối quan hệ hợp tác kinh tế với Trung Quốc, mặt khác lại triển khai một loạt các hoạt động quân sự để bao vây, kiềm chế Trung Quốc.
Chính cách hành xử 2 mặt của Mỹ đã khiến Trung Quốc khai thác triệt để, họ cậy mạnh, hành động ngày càng quyết liệt, quyết đoán và hung hăng trong tranh chấp chủ quyền với các quốc gia khu vực Châu Á-TBD.
Trên biển Hoa Đông, tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Sekaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư trên biển Hoa Đông căng thẳng đã leo thang đến nấc thang cuối cùng kề bên miệng hố chiến tranh.
Còn nhớ trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, lúc đầu Mỹ không tham gia vì muốn “ngư ông đắc lợi”. Nhưng khi bị cú như trời giáng Trân Châu cảng, lúc đó Mỹ mới buộc phải nhảy vào vòng chiến tranh. Vậy thì liệu cuộc chiến Trung-Nhật có xảy ra hay không? Và khi đó Mỹ có sự lựa chọn nào khác? Hậu họa khôn lường ở đây là gì?
Nước cờ tuyệt hay của Nhật Bản.
Nhật Bản tuyên bố nếu UAV của Trung Quốc xâm phạm không phận Senkaku là bị bắn hạ tức khắc. Trung Quốc tuyên bố, nếu bắn hạ UAV của Trung Quốc là hành động chiến tranh, Trung Quốc sẵn sàng đáp trả.
Như vậy có nghĩa là nếu như Nhật Bản bắn hạ UAV của Trung Quốc thì chiến tranh giữa 2 nước sẽ nổ ra.
Nên nhớ đây là tuyên bố của cấp chính phủ, cấp nhà nước của cả hai bên chứ không phải tuyên bố của những kẻ quá khích nào, cho nên, đây không phải là tuyên bố chơi theo kiểu “hỏa lực mồm”…mà lời tuyên bố được bảo đảm chắc chắn sẽ thực thi nghiêm túc bằng hành động.
Vấn đề là sau 2 tuyên bố này, UAV của Trung Quốc có bay vào nơi mà Nhật Bản gọi là không phận của họ hay không mà thôi.
Có thể nói Nhật Bản đã “chuyền bóng” vào chân Trung Quốc, buộc Trung Quốc xử lý, lựa chọn cực kỳ khó khăn một điều tối quan trọng một mất một còn tầm quốc gia.
Nếu Trung Quốc cho UAV bay vào đó có nghĩa là Trung Quốc chấp nhận một cuộc chiến với Nhật Bản mà Mỹ dứt khoát phải buộc vào cuộc. Mỹ có thể không can thiệp vào Senkaku nhưng rất tiếc cuộc chiến Trung-Nhật lại không chỉ dừng ở đó. Tiến hành một cuộc chiến tay đôi với Nhật Bản đã khó thắng, thế thì có cả Mỹ tham gia liệu Trung Quốc có thắng không, hay là “lời nguyền Nhật Bản” không thể phá giải?
Nhưng nếu không muốn chiến tranh với Nhật Bản lúc này thì có nghĩa là đừng cho UAV bay vào đó, không phận của Senkaku và điều này cũng có nghĩa là Nhật Bản đã bảo vệ được chủ quyền của mình.
Chắc chắn hiện giờ, Trung Quốc chưa muốn chiến tranh với Nhật Bản có Mỹ tham gia trực tiếp, do đó, Trung Quốc sẽ không dám cho UAV bay đến Senkaku để thử xem Nhật Bản có dám bắn hạ hay không.
Để tăng độ rắn cho tuyên bố bắn hạ UAV, Nhật Bản tiến hành một động thái rất hung hăng, dùng máy bay, khu trục hạm, xông thẳng vào cuộc diễn tập “Cơ động-5” của Trung Quốc khiến Trung Quốc tức lộn ruột và buộc phải thay đổi kế hoạch diễn tập.
Đây chẳng phải là nước cờ tuyệt hay đó sao. Nhật Bản vừa dùng áp lực để buộc Trung Quốc phải bỏ ngay trò dùng UAV phục vụ mục đích tranh chấp chủ quyền, vừa gửi đến Mỹ một thông điệp ngắn “Anh hoặc là đi cùng thuyền với tôi hoặc tôi tự do đi một mình”.
Lựa chọn khó khăn của Mỹ.
Trước tình hình đó, Mỹ đã tỏ ra hốt hoảng lo lắng đến “lợi ích quốc gia” sẽ bị thiệt hại. Rõ ràng là Mỹ đã nhận thức được là không thể áp đặt lối chơi thực dụng của mình. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ Mike Howe cho rằng, Mỹ không nên để một mình Nhật Bản đối phó với Trung Quốc bởi nếu điều này diễn ra sẽ hậu họa khôn lường.
Mỹ sợ rằng nếu để Nhật Bản một mình thì bị Trung Quốc “ăn tươi nuốt sống ư? Không phải, Mỹ hiểu Trung Quốc có gì, Trung Quốc chưa đủ bản lĩnh và khả năng làm điều đó. Vấn đề là Mỹ đã nhận thấy thời gian “một mình” với Trung Quốc của Nhật Bản không dài nhưng đủ để Nhật Bản “trưởng thành”. Trong khi Mỹ lại không muốn Nhật Bản quá mạnh, sức mạnh vượt ra khỏi tầm quản lý của Mỹ, lúc đó, chưa nói việc Nhật Bản sẽ tranh ngôi vị với Mỹ mà Nhật Bản sẽ tự mình làm mọi thứ cần thiết để chơi rắn với Trung Quốc, làm đảo lộn các mối quan hệ trong khu vực gây thiệt hại lớn cho lợi ích của Mỹ.
Một thực tế là Trung Quốc càng hung hăng bao nhiêu thì Nhật Bản càng trỗi dậy, càng cố “phá tan xiềng xích” để trở thành cường quốc quân sự, chính trị bấy nhiêu. Điều lo ngại cho Trung Quốc và kể cả Mỹ là để trở thành một cường quốc như thế, Nhật Bản chỉ vướng bởi cơ chế (xiềng xích) nhưng không thành vấn đề về mặt kỹ thuật.
Trung Quốc, Mỹ và thời thế xô đẩy…Nhật Bản sẽ đi theo con đường riêng của mình, sẽ là quốc gia tiên phong chống sự bành trướng của Trung Quốc theo cách của mình mà không cần Mỹ.
Để Nhật Bản một mình đối phó với Trung Quốc quá lâu thì Mỹ phải hối hận.
Đó là sự nguy hiểm cho Mỹ khi Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật Bản sẽ không có lý do gì mà tồn tại, bị người Nhật vứt vào sọt rác làm ảnh hưởng đến sự tồn tại quân sự của Mỹ ở Châu Á-TBD mà cả an ninh nước Mỹ. Chưa hết, điều gì sẽ xảy ra nếu như Nhật Bản và Nga bắt tay nhau chẳng hạn…Lúc đó, Mỹ sẽ mất quyền độc tôn ở khu vực Châu Á-TBD và phải chăng cái gọi là hậu họa khôn lường như ngài Chủ tịch Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ Mike Howe cảnh báo là vậy.
Chắc chắn trong tương lai gần Mỹ sẽ không đánh đổi mối quan hệ với Nhật Bản để có mối quan hệ bền chặt hơn với Trung Quốc. Mỹ không thế vừa muốn ăn con vịt quay vừa muốn ăn trứng nó đẻ ra hàng ngày.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

CAM RANH VÀ SUBIC – SỰ KHÁC BIỆT 2 THƯƠNG HIỆU.


Cam Ranh và Subic hiện tại không còn là căn cứ quân sự của nước ngoài nào nhưng trước sự trỗi dậy của Trung Quốc kéo theo tình hình tranh chấp căng thẳng trên Biển Đông, một lần nữa, Cam Ram Ranh, Subic lại được sự quan tâm lớn của giới quân sự, ngoại giao và của các bên liên quan.
Subic-thương hiệu Philippin.
Tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippin xảy ra quyết liệt khi bãi cạn Scarborough bị Trung Quốc dùng tàu cá có hộ tống của tàu Hải giám chiếm đoạt và bãi Cỏ May (một trong 9 đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Philippin đang làm chủ) đang bị Trung Quốc lăm le chiếm nốt khi tuyên bố chủ quyền ngang ngược.
Thực tế thì đã có vài lần Philippin đàm phán “song phương” với Trung Quốc nhưng ở vào thời điểm thế lực của Hải quân quá yếu trong khi tham vọng của Trung Quốc quá lớn, không thể kiềm chế, thì đàm phán trong vị thế đó làm sao thành công cho Philipines.
Rốt cuộc, khi Philippin đã thấm hiểu được “ý chí” của Trung Quốc thì cái giá phải trả là mất bãi cạn Scarborough. Và, cho đến giờ, phải chăng giữa Trung Quốc và Philippin thì “không còn gì để nói với nhau”, “các biện pháp ngoại giao đã cạn” trong tranh chấp chủ quyền trên biển?
Philippin kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vì vi phạm UNCLOS với cái gọi là “đường lưỡi bò”; Philipines tăng cường sức mạnh với tốc độ nhanh cho lực lượng Hải quân, không quân; Philippin làm mới nóng liên minh quân sự với Mỹ; Philippin là nước ở châu Á-TBD duy nhất công khai bày tỏ ủng hộ Nhật Bản tái vũ trang…là sự đáp trả rất quyết liệt, nhưng với Trung Quốc, nếu chỉ vậy thôi thì đây là chuyện nhỏ. Philippin sử dụng căn cứ Subic như thế nào mới là chuyện lớn, đáng quan tâm, lo ngại của Trung Quốc.
Rõ ràng là cả Trung Quốc và Philippin đều biết chính xác là Mỹ không đem quân sang để đánh nhau với Trung Quốc bởi mấy đảo đá, bãi cạn của Philippin tranh chấp vì đó không phải là lợi ích quốc gia của Mỹ. Philippin cũng đã có bài học của Gruzia quá tin vào NATO, Mỹ sẽ đối đầu quân sự với Nga nên có hành động “xỉa răng cho cọp”. Nói chung, ít có một quốc gia nào đi bảo vệ một quốc gia nhỏ bé mà sẵn sàng đụng đầu với một đối thủ ngang ngửa, đặc biệt quốc gia thực dụng như Mỹ thì không có.
Hiện diện quân sự của Mỹ ở Subic không phải cùng trực tiếp với Philippin tranh chấp chủ quyền mà để không chế Biển Đông và eo biển Malacca khi cần, ngăn cản Trung Quốc đang ham muốn và ráo riết thực hiện.
Khi Mỹ hiện diện tại Subic thì cái gọi là “vòng dây xiết quanh cổ Trung Quốc” càng chặt lại là điều Trung Quốc, một siêu cường, không thể chấp nhận.
Trong điều kiện đang tồn tại liên minh quân sự Mỹ-Philippin thì sự hiện diện của Mỹ tại Subic là “danh chính” và chỉ cần Philippin “mời” là “ngôn thuận”.
Có thể nói, đụng độ tranh chấp với Philippin, đã gây ra một mâu thuẫn trong chiến lược Biển Đông của Trung Quốc rất khó giải quyết. Đó là, Trung Quốc phải lựa chọn giữa việc đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông hay lôi thôi với mấy cái đảo đá chìm để “dọn chỗ VIP trên Biển Đông” cho Mỹ…
Và, đó cũng chính là sự khai thác, sử dụng triệt để Subic kiểu Philippin hay Subic-thương hiệu Philippin.
Cam Ranh-thương hiệu Việt Nam.
Philippin và Việt Nam cũng có tranh chấp căng thẳng về chủ quyền biển đảo với Trung Quốc. Cam Ranh của Việt Nam còn có lợi thế hơn Subic nhiều lần…Nhưng Việt Nam và Philippin có cách khai thác sử dụng 2 cảng nổi tiếng đó khác nhau để tạo ra thương hiệu khác nhau.
Thứ nhất là:
Philippin có liên minh quân sự với Mỹ nên không sợ Trung Quốc tấn công. Việt Nam không liên minh quân sự với ai cả nên phải tăng cường cảnh giác, tự lực tự cường, “thắt lưng buộc bụng” để nâng cao năng lực phòng thủ bảo vệ Tổ quốc sẵn sàng giáng trả quân xâm lược, bắt chúng phải trả giá đắt.
Với tinh thần đó, Việt Nam đã, đang chỉ có đủ khả năng, tìm mọi khả năng, tăng cường mọi khả năng, sử dụng, khai thác một cách hợp lý, sáng tạo vị trí Cam Ranh, Trường Sa nhằm một mục đích là bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông được quốc tế công nhận mà không nhằm làm hại hay để đối phó với một quốc gia nào.
Đó cũng là điều giải thích rõ ràng quan điểm nhất quán của Việt Nam là không liên minh quân sự với quốc gia nào để chống nước thứ 3 (lẽ dĩ nhiên điều đó đồng nghĩa với việc sẽ không có chuyện cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự).
Cho nên, Cam Ranh chỉ là căn cứ quân sự liên hợp gồm không quân, hải quân hiện đại của Việt Nam, chỉ phục vụ mục đích quân sự duy nhất cho Việt Nam. Đồng thời, Cam Ranh cũng là nơi cung cấp dịch vụ (hàng hải, hậu cần, kỹ thuật) cho tàu thuyền quân sự hay dân sự của bất cứ quốc gia nào.
Thứ hai là:
Một số người hô hào là hãy cho Mỹ đặt căn cứ quân sự tại Cam Ranh để đối phó với Trung Quốc…
Giả sử như vậy thì khi Trung Quốc tấn công Trường Sa, xâm lấn chủ quyền thì Mỹ trực tiếp đánh Trung Quốc vì Việt Nam? Hoang tưởng.
Với Cam Ranh, giới quân sự thì đánh giá Cam Ranh có một vị trí vô cùng quan trọng và lợi hại trong khu vực. Rằng, ai có Cam Ranh thì khống chế được Biển Đông, ai có Trường Sa cũng khống chế được Biển Đông và cuối cùng thì ai khống chế được Biển Đông là làm chủ toàn khu vực…
Điều lý thú là Việt Nam có cả Cam Ranh và Trường Sa nhưng lại không có ý tưởng khống chế Biển Đông để làm chủ khu vực ngay cả khi nếu có đủ khả năng để phục vụ cho ý tưởng đó. Nhưng đó lại là ý tưởng của Mỹ nếu như Mỹ có Cam Ranh của Việt Nam.
Tại sao Việt Nam có đủ khả năng khai thác sử dụng Cam Ranh để bảo vệ chủ quyền của mình mà phải giao cho người khác sử dụng vì lợi ích quốc gia của họ không trùng hợp với lợi ích quốc gia Việt Nam?
Đó là điều vô lý, dại dột, không thể xảy ra.
Và cuối cùng:
Tính cách dân tộc, nền văn hóa dân tộc và đặc biệt là từ năng lực, ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền…của 2 quốc gia khác nhau.
Kết luận vấn đề là làm sao xây dựng được thương hiệu mạnh? Muốn vậy phải liên kết, hợp tác với ai...thì phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ. Chắc chắn các sếp đã có bài rồi.
ngocthong19.5@gmail.com

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

VÁN CỜ BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM



Đương nhiên là vậy, đã qua rồi thời Việt Nam là một quân cờ trên Biển Đông, trên ĐNA. Với vị trí chiến lược quan trọng, với khả năng tự vệ, đương đầu với mọi thách thức an ninh có được, đã đến lúc Việt Nam tự quyết định chiến lược an ninh của mình.
Nói đến Biển Đông thì ai cũng đều có chung một đánh giá từ xưa đến nay là Biển Đông có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong khu vực châu Á-TBD. Chính vậy mà làm chủ hoàn toàn Biển Đông hoặc bảo vệ an toàn hàng hải trên Biển Đông không phải chỉ là mong muốn của một quốc gia mà có rất nhiều quốc gia đưa vào trong chiến lược khu vực, toàn cầu của họ.
Đó thực sự là tâm điểm của một cuộc chiến địa chính trị khu vực châu A-TBD mà nguy cơ xung đột, chiến tranh và cơ hội hợp tác, hòa bình phát triển là không đoán định.
Với hơn 3000 km đường bờ biển giáp Biển Đông và hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó có quần đảo Trường Sa nằm gần như chính giữa Biển Đông, Việt Nam, do đó, có một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trên Biển Đông nói riêng và khu vực ĐNA nói chung.
Không khó để giải thích tại sao trước đây, Việt Nam cứ liên miên hết thế lực lớn này đến thế lực lớn khác luôn dòm ngó, xâm lược hoặc coi như một quân cờ trên bàn cờ chiến lược Biển Đông, khu vực ĐNA.
Tại sao ư? Tại vì nghèo, yếu, lại ở vào vị trí đắc địa là nguyên nhân chính gây ra thảm họa cho dân tộc Việt Nam trước đây.
Ngày nay, Việt Nam đã khác, với khả năng tự vệ, đương đầu với mọi thách thức an ninh có được, đã đến lúc Việt Nam tự quyết định vị thế của mình, tham gia vào cuộc cờ khu vực với vị thế khác – người chơi chứ không phải là quân cờ.
1- Nước cờ của Việt Nam từ góc nhìn Trung Quốc
Hoạt động ngoại giao thời bình như hoạt động quân sự thời chiến, nghĩa là đều có tính quyết đinh sống còn với vận mệnh quốc gia.
Trong thời chiến, hoạt động ngoại giao phụ thuộc vào kết quả quân sự. Hiệp định Gioneve năm 1954 được ký kết phải sau khi “Tin đây anh (Phạm Văn Đồng) Điện Biên Phủ hoàn thành”. Hiệp định Pari ký cũng phải sau trận “Điện Biên Phủ trên không”
Trong thời bình, kết quả đối ngoại phụ thuộc lớn vào vị thế đất nước, đặc biệt là tiềm lực quốc phòng. Không có khả năng, tiềm lực quân sự để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bắt kẻ xâm lược phải trả giá đắt nếu liều lĩnh xâm phạm, nghĩa là không đủ sức răn đe thì hoạt động ngoại giao chỉ “chót lưỡi đầu môi”.
Hiện tại ở khu vực châu Á-TBD đã có nhiều liên minh quân sự như Mỹ-Nhật Bản, Mỹ-Hàn Quốc, Mỹ-Philipines và nhiều tam giác chiến lược như Mỹ-Nhật Bản-Hàn Quốc, Mỹ-Nhật Bản-Ấn Độ, Mỹ-Nhật Bản-Úc…có vẻ như là để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy những mối quan hệ đó có thể làm cho Trung Quốc lo ngại, nhưng không đủ để làm họ hốt hoảng.
Trong chiến lược đẩy lùi Mỹ, Nhật Bản ra khỏi chuỗi đảo thứ nhất và đầy tham vọng biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình, đương nhiên, Trung Quốc sẽ vấp phải sự chống trả quyết liệt của bên liên quan.
Trên khu vực ĐNA cũng xuất hiện nhiều mối quan hệ cấp đối tác chiến lược như Việt Nam-Indonesia, Việt Nam-Nhật Bản…đặc biệt có đối tác chiến lược sâu, toàn diện như Việt Nam-Nga chẳng hạn, thì đâu là mối quan hệ khiến Trung Quốc lo sợ nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến chiến lược biến Biển Đông thành “ao nhà” của họ?
Phải chăng khi Mỹ và Việt Nam trở thành đối tác chiến lược, Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam, mối quan hệ tăng lên từ chiều sâu đến chiều rộng thì khiến Trung Quốc lo sợ?
Không phải. Mỹ có lợi ích quốc gia toàn cầu, dù có đối đầu với Trung Quốc, muốn bao vây, kiềm chế Trung Quốc…nhưng vẫn hợp tác với Trung Quốc. Vì thế khi cần, Mỹ vẫn sẵn sàng lấy mối quan hệ với Việt Nam ra mặc cả với bất kỳ quốc gia nào, kể cả Trung Quốc để tính toán thiệt hơn, nhiều ít.
Vậy, liên minh phòng thủ giữa Việt Nam với Philipines và ASEAN?
Nếu xảy ra thì đây cũng là điều đáng lo sợ cho Trung Quốc, bởi lẽ các quốc gia ĐNA trong khối ASEAN này có một địa quân sự rất quan trọng trên Biển Đông và eo biển Malacca. Khi họ liên thủ với nhau thì Biển Đông sẽ trở thành như một cái “hồ nước” mà một chứ mười hạm đội Nam Hải cũng chẳng làm gì được khi vùng vẫy trong đó bị “đồng loạt trên bờ ném đá”.
Rất may là tình huống này không có thể xảy ra. Cuộc chiến địa chính trị giữa Trung Quốc, Mỹ đã khiến cho ASEAN buộc phải lựa chọn, nghiêng ngả theo lợi ích quốc gia mà họ theo đuổi và Trung Quốc cũng không mấy khó khăn đang làm mọi cách để không xảy ra.
Vậy mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga chăng?
Cũng không phải. Thực tế mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga là mối quan hệ được coi trọng ưu tiên hàng đầu hiện nay. Đây là mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, đặc biệt tin cậy lẫn nhau và không một xung đột lợi ích nào dù là nhỏ.
Nga đã không ngừng tăng cường năng lực quốc phòng cho Việt Nam để đủ sức đương đầu với thế lực bành trướng, tạo ra sức răn đe mạnh (đương nhiên là mua bán, nhưng nếu không có độ tin cậy thì không phải có tiền là mua được thứ mình muốn và ngược lại), qua đó Nga kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đồng thời củng cố một điểm đứng chân ổn định vững chắc, tin cậy tại châu Á-TBD cho tương lai gần, vừa bảo vệ lợi ích kinh tế của Nga trên Biển Đông.
Tuy nhiên giữa Nga và Trung Quốc cũng là đối tác chiến lược của nhau có tính chất vừa hợp tác vừa kiềm chế cho nên Nga không thể vì Việt Nam tất cả để hy sinh lợi ích quốc gia khi hợp tác với Trung Quốc.
Vậy rốt cuộc, với khả năng quốc phòng và sức mạnh trên Biển Đông hiện tại, Việt Nam tăng cường mối quan hệ với quốc gia nào thì sẽ khiến Trung Quốc lo sợ và không muốn?
Nếu như thế thì nước cờ đó hay mối quan hệ này phải có tác động mạnh đến cấu trúc địa chính trị khu vực và ít nhất có một mục tiêu chung là ngăn chặn Trung Quốc biến Biển Đông thành “ao nhà”. Đặc biệt, mối quan hệ đó phải có độ tin cậy, tức là không có xung đột về lợi ích. Mối quan hệ đó sẽ…
Đó chính là nước cờ hay sách lược đối ngoại có tính logic mà Việt Nam đã, đang và sẽ dùng để tăng cường thế, lực cho đất nước đủ sức bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình trước những thách thức nguy hiểm có thể xảy ra.
2- Việt Nam-Nhật Bản, không để lịch sử lặp lại.
Trong tình thế hiện tại về chủ quyền, rõ ràng là Trung Quốc đang xâm hại đến chủ quyền Việt Nam.
Trung Quốc đã thành lập và xây dựng cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; Trung Quốc ngang ngược, cậy mạnh, gọi thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam, ra lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng EEZ của Việt Nam.
Hạm đội Nam Hải của hải quân Trung Quốc luôn phô trương thanh thế, ráo riết diễn tập đánh chiếm đảo này đảo khác trên Biển Đông…(còn những tuyên bố ngạo mạn, láo xược, của giới học giả quá khích, tướng tá diều hâu, hiếu chiến về Việt Nam được bật đèn xanh thì chúng ta không đáng quan tâm).
Trong tình thế đó, Việt Nam phải làm gì, chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn khi từng hòn đảo, vùng biển thiêng liêng bị Trung Quốc xâm lấn?
Việt Nam muốn hòa bình nhưng hòa bình không lệ thuộc, Việt Nam kiên quyết bảo bệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên vùng biển Việt Nam được quốc tế công nhận theo UNCLOS.
Do đó, không còn cách nào khác là phải tăng cường tiềm lực quân sự và đối ngoại quân sự để tạo ra thế và lực vững chắc cho đất nước.
Đài “Tiếng nói nước Nga” có bình một câu hay nhưng chưa chính xác, rằng, “Con hổ Việt Nam có móng vuốt Nhật Bản” mà lẽ ra thì “móng vuốt của Nga” mới đúng. Nhưng thật ra, móng vuốt của Hổ chưa quan trọng, quan trọng là thế võ của hổ vồ như thế nào. Tuy nhiên, hổ vồ như nào không phải là điều quyết định, quyết định là nội lực của Hổ. Giống hổ thật đấy, nhưng đói đi không vững thì vồ được ai.
Chúng ta hãy trở lại với luận bàn từ thanh kiếm. Đó là, kiếm dài hay ngắn không quan trọng, quan trọng là kiếm pháp. Tuy nhiên, kiếm pháp tốt hay dở chưa quyết định, quyết định là thanh kiếm gì.
Nếu thanh kiếm đó là một “thanh kiếm báu” như, làm bằng công nghệ nào, chất liệu ra sao để có thể chém sắt như chém bùn…và một thanh kiếm thường, chỉ gặp một cành cây đã quằn, gặp kiếm địch thì bị chém đứt là hoàn toàn khác nhau khi đối đầu.
Chính xác là Việt Nam cần và phải có “thanh kiếm báu” và Trung Quốc quá biết nó sẽ có từ đâu.
Kể từ năm 1945 đến năm 2010, Nhật Bản có 65 năm hòa bình, xây dựng đất nước thành một siêu cường kinh tế, có một nền công nghiệp hiện đại, kỹ thuật công nghệ cao nhất nhì thế giới.
Trong 65 đó Nhật Bản chỉ tồn tại 2 mâu thuẫn với bên ngoài có thể coi như thách thức đến an ninh là CHDCND Triều Tiên và Nga trên quần đảo phía Bắc. Tuy thế 2 mâu thuẫn đó không đủ để biến lực lượng Phòng vệ Nhật Bản “thay tên đổi dạng”, chưa đủ để đánh thức dân tộc Nhật đang “say giấc ngủ hòa bình”. Lưu ý là, nếu như ai đó cho rằng trong 65 năm đó, Nhật Bản không chuẩn bị gì cho tiềm lực quốc phòng là nhầm. Đó không phải là tư duy của một quốc gia có nền công nghiệp hiện đại và quốc gia đang tồn tại đền thờ chiến tranh thế giới lần 2 thì càng không.
Chỉ đến năm 2010, đặc biệt là trong tranh chấp quần đảo Senkaku thì yếu tố Trung Quốc là đủ năng lượng để đepo khởi động bộ máy quân sự, quốc phòng và đánh thức chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản.
Một loạt các sức cản, ràng buộc như Hiến pháp hòa bình Nhật Bản, tâm lý quen hưởng hòa bình vào ô hạt nhân Mỹ, dựa dẫm vào Mỹ trở nên không là gì trước cú tác động của Trung Quốc.
Chiến tranh thế giới lần 2 đã kết thúc 68 năm, trong khi châu Âu đã vĩnh viễn lật sang trang mới những mối oán hận giữa các kẻ thù cũ nhưng vùng ĐBA thì không.
Mối hận thù dân tộc “nỗi nhục 100 năm” của Trung Quốc với Nhật Bản vẫn còn đó và càng lớn dần theo đà trỗi dậy của Trung Quốc, bất chấp Nhật Bản đã từng tạo điều kiện thuận lợi, quan trọng cho sự trỗi dậy thần kỳ của mình.
Tranh chấp quyết liệt Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông đã làm mối quan hệ Trung-Nhật xấu đi đến mức chiến tranh có nguy cơ xảy ra.
Trên Biển Đông. Nếu Trung Quốc biến thành “ao nhà”, khống chế luôn eo biển Malacca thì coi như nền kinh tế Nhật Bản sống hay chết hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn Trung Quốc. Đòn “cắt nguồn cung đất hiếm” Nhật Bản chắc đã nhận đủ từ Trung Quốc và để bắt Nhật Bản thành chư hầu, Trung Quốc có thừa lòng căm hờn và sự quyết tâm để phong tỏa tuyến hàng hải Biển Đông khi cần thiết.
Nếu Việt Nam thất thế, như mất Trường Sa chẳng hạn, lúc đó tuyến hàng hải thương mại, vận chuyển năng lượng bị mất an toàn thì Nhật Bản sẽ rơi vào tình thế nguy hiểm.
Như vậy, có thể nói việc Trung Quốc biến Biển Đông thành “ao nhà” có ảnh hưởng “không thể chấp nhận được” đến 2 quốc gia là Việt Nam và Nhật Bản, cho nên, theo logic thì ngăn chặn âm mưu, hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam và Nhật Bản đều có cùng mục tiêu mang tính “tối thượng” là an ninh quốc gia và chủ quyền.
Hiện tại Nhật Bản có một nền công nghiệp hiện đại nhất châu Á. Mặc dù GDP sau Trung Quốc nhưng chất lượng GDP cao hơn rất nhiều Trung Quốc. Cục diện địa chính trị trong vài năm tới Nhật Bản sẽ là có vai trò chính trên châu Á-TBD trong khi hiện tại “lòng tin chiến lược” Trung-Nhật đã cạn.
Cho nên, đối tác chiến lược với Nhật Bản là đối tác chiến lược với một cường quốc lớn và không có gì thuận lợi hơn là Việt Nam và Nhật Bản cũng như Việt Nam và Nga là đối tác chiến lược của nhau mà không có xung đột lợi ích, vì thế có độ tin cậy, có lòng tin, hoàn toàn khác bản chất với đối tác chiến lược nào đó mà vừa hợp tác vừa kiềm chế nhau.
Đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản chắc chắn một điều là dù có hay không có căng thẳng trên Biển Đông thì Việt Nam và Nhật Bản cũng cần phải tăng cường mối quan hệ vì sự phát triển của 2 quốc gia đầy duyên nợ này.
Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản là nước tư bản lớn đầu tiên có quan hệ ngoại giao với Việt Nam dân chủ cộng hòa. Không phải ngẫu nhiên mà mà nhà yêu nước Phan Bội Châu tìm đường sang Nhật Bản đã được khắc họa trong bộ phim “Người cộng sự” mà Đài truyền hình Việt Nam phát sóng nhân dịp 40 năm quan hệ ngoại giao Việt-Nhật.
Người Việt và đặc biệt là người Nhật không nên để lịch sử lặp lại vì đó là lịch sử đầy đau thương và hối tiếc của 2 dân tộc.
“Lòng tin chiến lược” giữa các quốc gia, dân tộc với nhau là tiền đề của hòa bình và phát triển.

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

NÊN NHỚ RẰNG, HÃY CÒN NỢ NGƯỜI MỘT LỜI XIN LỖI!


Những ngày này, cả nước Việt Nam chìm trong nỗi tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Qua tình cảm của người dân dành cho Đại tướng mới thấy một điều rằng nhân dân công tâm lắm.
Nhân dân biết hết, ai tốt, ai xấu , ai bị trù dập, ai tham nhũng, ai kèn cựa ngậm máu phun người…dân biết hết và quân đội càng biết rõ hơn.
Tất cả những tình cảm dành cho Đại tướng mà có thể nói là người dân đã dồn nén trong nhiều năm nay, nay mới có dịp bung ra. Và như vậy mới thấy rằng, những ai vì dân thì sẽ thuộc về nhân dân.
Lịch sử công bằng lắm.
Phải mất 22 năm sau khi Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, Lê Thánh Tông mới giải oan cho ông. Đã mấy trăm thế kỷ rồi mà mỗi lần đọc lời giải oan “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” vẫn khiến lòng chua xót, con tim như nhói đau, mắt như nhòa lệ.
Điếu văn của BCHTW Đảng CS Việt Nam đã đánh giá đúng công lao, đánh giá đúng nhân cách của Đại tướng cũng khiễn đồng bào cả nước nghẹn ngào, nhòa lệ, nhưng hình như chưa đủ.
Bởi vì nếu đã như vậy thì thực tế hoạt động chính trị của Đại tướng tại sao lại không hợp logic một tẹo nào, đúng không?
Bởi vì, nếu đã như vậy thì tại sao lại thiếu một lời xin lỗi, đúng không?
Quân đội nhân dân Việt Nam không có lỗi với người “Anh cả” của mình, Nhân dân Việt Nam chỉ mang ơn ông mà cũng không có lỗi với vị Đại tướng của mình. Bởi lẽ, giá như, quân đội, nhân dân Việt Nam, có quyền được lựa chọn Đại tướng cho mình, “Anh cả” cho mình.
Vậy ai là người có lỗi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì hãy xin lỗi Người trước khi quá muộn. Đừng để thế hệ sau này phải minh oan cho ông thì…không còn gì để nói.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

GÓC NHÌN CỦA LÍNH: 2 ĐIỀU VỀ TƯỚNG GIÁP.


Điều thứ nhất: Tướng Giáp luôn luôn đúng.
Lịch sử đất nước trong 31 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã ghi nhận và chứng minh.
- Tấn công Đông Khê thay vì Cao Bằng.
- Thay đổi cách đánh ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đánh chắc tiến chắc, chứ không dùng chiến thuật “biển người”.
- Mậu thân 1968 thắng lợi lớn nếu như sau tấn công đợt 1 thì rút quân ra khỏi thành thị về nông thôn tổ chức phòng thủ.
- Chiến dịch Quảng Trị năm 1972. Nếu nghe tướng Giáp thì không bao giờ quân ta rơi vào phòng ngự bị động gây ra tổn thất lớn. Đã thế còn có tư tưởng sai lầm về tiến công cách mạng, cứ cho rằng cách mạng là tiến công chứ không phòng ngự… Và khi tướng Giáp kiên quyết ra lệnh rút lui khỏi thành cổ Quảng Trị mới dừng lại con số “81 ngày đêm”.
- Mưu kế tuyệt vời. Kéo căng, gìm địch 2 đầu để điểm huyệt Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên.
- Buộc tướng Lê Trọng Tấn, một vị tướng đánh trận giỏi nhất Việt Nam, người được mệnh danh là “Ducốp Việt Nam” phải đánh giải phóng Đà Nẵng trong 3 ngày. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi nếu như hơn 10 vạn quân Ngụy ở Đà Nẵng chỉ cần ta chậm 1 ngày là ùn ùn kéo vào quanh Sài Gòn tử thủ thì sẽ như thế nào?
- Chỉ thị trực tiếp cho Mai Năng, Lữ trưởng 126 và quân khu 5 bằng mọi cách phải giải phóng Trường Sa.
- Tấn công giải phóng Căm Pu Chia khỏi bọn diệt chủng. Nếu nghe theo Tướng Giáp cắt đứt biên giới Thái Lan-Campuchia rồi tấn công diệt gọn thay vì đánh vỗ mặt để chúng chạy hết sang Thái Lan khiến chúng ta phải dây dưa với chúng tới 10 năm mà không dứt điểm gọn được, hao người tốn của.
Chính vì thế toàn quân, toàn dân trước sau như một đều đặt trọn lòng tin vào người chỉ huy tài giỏi của mình, yêu quý, kính trọng ông là thế.
Điều thứ hai: Nếu ai đó còn thăn văn chuyện này chuyện kia thì hãy coi điều thứ nhất.
Vẫn biết trong suốt 31 năm chiến tranh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh, nhưng trong chống Pháp, Bác Hồ trao cho tướng Giáp “tướng quân tại ngoại quyết trước báo sau”. Còn trong chống Mỹ thì không phải tướng Giáp quyết được. Ông phải thông qua Bộ CT, có khi chỉ một phiếu và không ít kẻ muốn thể hiện mình là tài giỏi, kèn cựa, đố kỵ, với tướng Giáp. Có lẽ tướng Giáp không buồn vì điều này nhưng nhìn máu xương người lính của mình đổ ra vì sai lầm chiến thuật, chiến lược mới khiến ông đau đớn rất nhiều.
Là một người lính của Đại tướng chỉ trong 2 năm thôi từ năm 1977 nhưng tôi không khỏi bàng hoàng khi hay tin Người đã đi theo Bác Hồ.
Non sông Việt Nam, dân tộc Việt Nam biết chờ đợi đến bao giờ nếu như lời nói của Giáo sư đáng kính Trần Đại Nghĩa là đúng: “Trên lĩnh vực quân sự và quân chính, phải vài thế kỷ nữa mới xuất hiện một Võ Nguyên Giáp thứ hai”.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

ĐIỀU GÌ XẢY RA KHI CAM RANH VÀ SUBIC "KẾT NỐI"?

GÓC NHÌN CỦA LÍNH: CAM RANH-SUBIC SẼ LÀ "EO BIỂN"
Tất nhiên, trong thời điểm hiện nay, đây chỉ là ý tưởng thuộc tính “khoa học viễn tưởng”, nhưng…chắc chắn là không điên rồ chút nào.
Khoảng cách Cam ranh-Subic tương đương từ đảo Hải Nam đến quần đảo Trường Sa chừng 1500 km. Nếu Cam Ranh và Subic “kết nối” thì, với vũ khí công nghệ cao như hiện nay, với vị trí đắc địa của Cam Ranh và Subic thì thứ nhất, không có một phương tiện nổi nào của Trung Quốc qua đây mà lọt khỏi tầm mắt của nó và thứ hai là các phương tiện nổi đó nằm trong tầm hỏa lực của nhiều loại vũ khí, đặc biệt là không quân.
Trung Quốc, trước mắt đang ngại với eo biển Malacca vì khả năng chưa thể khống chế được nên còn nhẹ tay, nhẹ miệng với Indonesia, Malaisia và Singapo, nhưng những viên tướng hiếu chiến lại rất coi thường Việt Nam và Philipines, bất chấp lợi hại, luôn mồm đe dọa “dạy cho bài học”…bất cứ lúc nào. Rất may với Trung Quốc, đó chỉ là những “viên tướng học giả”.
Thế giới mới chỉ biết đến eo biển Malacca do thiên nhiên tạo ra giữa Malaisia, Indonesia và Singapo, nhưng khi Cam Ranh và Subic “kết nối” thì cũng tạo nên một “eo biển” lợi hại không kém. Khi đó, tấn công đánh chiếm quần đảo Trường Sa là phi thực tế với hạm đội Nam Hải của PLAN. Trung Quốc đã lường trước được điều này hay không thì không biết, nhưng nếu có thì điều đó chẳng phải là điên rồ. Đến tấn công, đánh chiếm Trường Sa, trước hết Trung Quốc phải vượt qua được “eo biển” này.
ngocthong19.5@gmail.com
KẾT NỐI NGHĨA LÀ THẾ NÀO? YẾU TỐ KHÁCH QUAN NÀO BẢO ĐẢM CHO SỰ KẾT NỐI ĐÓ HOÀN HẢO? CỤC DIỆN ĐỊA CHÍNH TRỊ LÚC ĐÓ SẼ RA SAO?...GÓC NHÌN CỦA LÍNH SẼ "THÁY GÌ NÓI VẬY" TRONG DỊP KHÁC.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

BẢO VỆ TRƯỜNG SA TỪ "TẦM NHÌN XA" CỦA MỸ



Đối với Việt Nam, lực lượng Hải quân phải bảo vệ chủ quyền lãnh hải và quyền chủ quyền trong khu vực đặc quyền kinh tế, thềm lục địa rộng 200 hải lý, lúc này, không phải là quá sức, đó chỉ là nhiệm vụ của một lực lượng Hải quân ven bờ.
Nhưng, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, quần đảo cách xa đất liền từ 400 đến 600 km là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi chỉ ý chí, quyết tâm thôi chưa đủ mà còn phải trí tuệ.
Hải quân ven bờ (khả năng tác chiến chỉ ven bờ) xây dựng và phát triển trở thành Hải quân đại dương (khả năng tác chiến bất cứ đâu trên đại dương) không phải ngày một ngày hai mà phải trải qua nhiều thập kỷ, với khoa học công nghệ thôi chưa đủ mà phải có kinh nghiệm và truyền thống…
Trung Quốc, một quốc gia đang trỗi dậy với những tham vọng lớn về đại dương cũng đang vật lộn với vô vàn khó khăn để trở thành Hải quân đại dương. Điều đó có nghĩa không phải bất cứ đâu trên đại dương, Hải quân Trung Quốc muốn là được, không gian địa lý ngăn cản họ. Một tướng hải quân Mỹ từng nói rằng, “ngoài căn cứ 500 km, hải quân Trung Quốc không biết làm gì”, không phải là không có lý.
Có thể nhiều người sẽ bất ngờ khi biết Trung Quốc có hàng ngàn máy bay chiến đấu đủ các thế hệ trong lực lượng không quân. Lực lượng này dù chất lượng thế nào thì vẫn là một sự răn đe lớn cho những quốc gia nào dám tác chiến trong vùng trời lục địa Trung Quốc.
Tuy nhiên, đây có phải là điều quan tâm lớn cho Đài Loan hay Trường Sa hay không? Đương nhiên là không, bởi, không phải máy bay nào trong số đó cũng tác chiến được trên vùng trời Đài Loan hay Trường Sa hay đưa nó lên được tàu sân bay (nếu có). Tăng tầm bay bằng một cuộc cách mạng về động cơ, nhiên liệu của máy bay thì không thể, bởi vậy, đóng tàu sân bay và tiếp dầu trên không là biện pháp kỹ thuật tối ưu của không quân Trung Quốc hiện nay nếu như muốn tác chiến tầm xa.
Lợi dụng địa lợi, khai thác triệt để tính năng kỹ thuật của vũ khí để chiếm ưu thế tác chiến.
Làm chủ vùng biển, trước hết là làm chủ vùng trời trên vùng biển đó của lực lượng không quân hải quân, đó là chân lý của các cuộc xung đột hay chiến tranh trên biển hiện đại.
Có thể nói, đang có một cuộc chạy đua với thời gian, âm thầm, quyết liệt, đầy trí não của Việt Nam và Trung Quốc để sẵn sàng làm chủ vùng trời khu vực quần đảo Trường Sa.
Nếu như Trung Quốc đang tăng cường nguồn lực để đóng tàu sân bay, chế tạo máy bay tiêm kích hạm, máy bay tiếp dầu trên không…để khắc phục bất lợi về địa lý thì Việt Nam, với thuận lợi về khoảng cách địa lý, Việt Nam tất nhiên đi theo hướng khác.
Thứ nhất, đó là khai thác triệt để tính năng kỹ thuật hiện có của máy bay, tăng cường số lượng, điều chỉnh phù hợp giữa tính đa nhiệm và chuyên sâu…nhằm để chiếm ưu thế tác chiến tuyệt đối trên vùng trời Trường Sa nếu xung đột xảy ra.
Chẳng cần phải giấu diếm, với tính năng kỹ thuật hiện có, ngay cả SU-27 của trung đoàn 940 vẫn thừa khả năng tác chiến ở Trường Sa thì không phải nghi ngờ gì về khả năng của SU-30MK2. Như vậy, kỹ thuật (công nghệ) của vũ khí hiện có thì khoảng cách địa lý của không quân hải quân Việt Nam không thành vấn đề. Vấn đề còn lại là số lượng và chiến thuật như thế nào để bảo đảm tác chiến chắc thắng.
Việc tăng cường thêm 12 chiếc SU-30MK2 có nằm trong tính toán đó của Việt Nam hay không thì chỉ có Bộ tham mưu Hải quân biết rõ, nhưng dư luân phần nào thấy được ý chí quyết tâm cao độ nhưng đầy trí não để bảo vệ Trường Sa của Việt Nam.
Nguyên với 36 chiếc máy bay Su-30MK2 hiện đại không kém gì không quân Trung Quốc không cần tiếp dầu vẫn thừa thời gian vần vũ trên vùng trời Trường Sa, chưa tính các loại SU khác…chắc chắn khiến đối phương phải suy nghĩ cẩn trọng. Và, không biết trong số máy bay đó có bao nhiêu chiếc chuyên về không đối hạm, chuyên không đối không, chuyên về áp chế điện tử…thì suy nghĩ phải “2 lần”.
Thứ hai là khai thác triệt để địa lợi để chiếm ưu thế về chiến thuật.
Lộ hướng tấn công là một điều không thể chấp nhận trong binh pháp. Lộ hướng tấn công sẽ gây cho ta 2 tình huống cực kỳ nguy hiểm. Một là đối phương chủ động bố trí lực lượng, sử dụng lực lượng có lợi chiếm ưu thế để đối kháng. Hai là bị đối phương ngăn chặn bằng phục kích, tập kích và bố trí những hệ thống vật cản (mìn, thủy lôi…)
Lâu nay, không ít các vị tướng hiếu chiến, các học giả quá khích của Trung Quốc luôn đe dọa nào là “dạy cho Việt Nam một bài học”, nào là “muốn thì cứ đánh chiếm” (Trường Sa)…và nếu như là thật, lúc đó, tấn công Trường Sa thì hướng tấn công của lực lượng không quân Trung Quốc luôn bị lộ vì hướng đó là hướng bắt buộc. (Chúng ta chưa đề cập đến hướng trên biển)
Lộ hướng tấn công là sự bất lợi lớn về chiến thuật. Nếu như trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” do hướng tấn công của B-52 Mỹ là bắt buộc nên đã lộ rõ tử huyệt là “điểm chuyển hướng” thì giờ đây, Trung đoàn radar 290 trên đỉnh Sơn Trà-Đà Nẵng, không cần phải vạch nhiễu tìm thù cũng dễ dàng dẫn đường cho không quân Việt Nam xuất kích đến đúng lúc, đúng tử huyệt (là “điểm tiếp dầu trên không” chẳng hạn) trên hướng tấn công của không quân Trung Quốc (nên hiểu đây là lối đánh du kích của không quân với hình thức phục kích), hoặc vân vân.
Làm được điều này có nghĩa là Việt Nam hạn chế được số lượng máy bay Trung Quốc tham gia tác chiến và hạn chế được thời gian tác chiến của những máy bay này trên khu vực không phận Trường Sa

Trạm Radar trên đỉnh Sơn Trà, chứng tích của người Mỹ đã dùng để khống chế và theo dõi toàn bộ khu vực rộng lớn từ đảo Guam (Mỹ) phủ qua đảo Hải Nam (Trung Quốc), nhưng với Việt Nam, cùng với vị trí Cam Ranh, chỉ cần quản lý khu vực Trường Sa đã là quá đủ.
Như vậy, với lực lượng tàu mặt nước, tàu ngầm của Việt Nam luôn kém ưu thế và khả năng tác chiến tầm xa nhiều lần so với Trung Quốc khi tác chiến tại khu vực Trường Sa thì trước mắt, sự hỗ trợ của không quân là rất lớn. Sự hỗ trợ này tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng tàu mặt nước, tàu ngầm có nhiều phương án tác chiến khả thi để bảo vệ vững chắc Trường Sa.
Hơn lúc nào hết, huyện đảo Trường Sa, huyện đảo tiền tiêu của Tổ quốc đã và đang hiên ngang với một niềm tin tất thắng. Cả dân tộc, cả đất nước, đang tất cả cho Trường Sa, vì Trường Sa.
ngocthong19.5@gmail.com