Thứ Sáu, ngày 19 tháng 8 năm 2016

Mỹ đang rút khỏi Trung Đông?


Điều ngạc nhiên là khi Nga đang đưa máy bay, tên lửa đến Trung Đông thì Mỹ đang khẩn trương chuyển số VKHN rời khỏi.
Có vẻ như Trung Đông không còn mối quan tâm của Mỹ. Mỹ đã xoay trục sang Châu Á-Thái Bình Dương để tránh một nơi đang hỗn loạn không thể điều khiển được hay đang tháo chạy tránh xa vũng lầy?
Người Nga đang đến!
Khi Mỹ-phương Tây đang nâng ly mừng chiến thắng trong vụ Ukraine chưa kịp ngửa cổ cho dòng rượu thơm ngon hảo hạng chảy vào thì người Nga đã đến từ lúc nào, lấy mất cái thứ họ cần nhất, chủ yếu nhất, của “vụ làm ăn” là Crimea.
Mỹ-PT mất Crimea, nghĩa là Crimea đã thuộc về Nga, Biển Đen thuộc về Nga và chưa dừng ở đó, vùng Donbass phía Đông Ukraine giáp Nga đã xuất hiện 2 nước Cộng hòa tự xưng thân Nga ra đời có đầy đủ sức mạnh để chia Ukraine theo ý muốn khi cần.
Vội vàng dùng Minsk-1, rồi Minsk-2 để kéo Nga dừng lại gấp và tiếp theo, dùng ngay “đòn dưới thắt lưng” là cấm vận, trừng phạt kinh tế để buộc Nga trả lại Crimea, nhưng chẳng làm gì được Nga. Bất kỳ một người dân Nga bình thường nào cũng trả lời “Không!” huống chi là Putin “Đại đế”.
Té ra, tại Ukraine, Mỹ-PT làm việc không công cho Nga, nói cách khác là “Cốc mò, Cò xơi”.
Tại Syria. Từ năm 2011, câu khẩu hiệu “Assad must go!” đã chói tai người Nga nhưng Nga đang tìm cách để “đóng băng” được cuộc khủng hoảng Ukraine và chờ cơ hội. Và, khi cái thời điểm “Assad must go” được đếm ngược, Mỹ-PT chuẩn bị nâng ly thì người Nga lại đến…
Cách người Nga đến, cách người Nga thể hiện tại chiến trường Syria đã làm Mỹ-PT bàng hoàng, Trung Đông rúng động. “Chỉ với một lực lượng tối thiểu, Nga đã đạt được mục tiêu tối đa” là sự công nhận của chính giới tinh hoa Mỹ-PT.
Bàn cờ Trung Đông thay đổi nhanh chóng có lợi cho Nga, Mỹ-PT buộc phải chấp nhận “cho phép Putin chiến thắng tại Syria” (BloobergView 4/8/2016).
Người Nga lần đầu tiên đã đưa máy bay, tên lửa S-400, S-300 đến Iran và với Iran, đây cũng là lần đầu tiên cho Nga sử dụng căn cứ quân sự là sân bay Nojei thuộc thị trấn Hamedan-Iran để tấn công trực tiếp quân IS và lực lượng khủng bố quốc tế khác. Theo đó: 1, Không quân Nga tự do bay trong khu vực không phân Iran; 2, UAV hoạt động tầm xa của Nga được phép hoạt động tại căn cứ không quân Nojei; 3, Tên lửa hành trình của Nga được phép bay qua không phận Iran.
Ngoài ra tên lửa hành trình Nga cũng dược phép bay qua Iraq và có tin đồn là Thổ Nhĩ Kỳ cũng chấp nhạn cho Nga sử dụng căn cứ Incirlik nếu cần…
Rõ ràng, một tam giác chiến lược mới hình thành trên cơ sở một hiệp ước quân sự Nga-Thổ Nhĩ Kỳ-Iran  sẽ giải quyết sự hỗn loạn tại Syria do Mỹ-PT để lại.
Mỹ đang rời khỏi…?
Có thể nói, tình hình Trung Đông đang vô cùng phức tạp. Mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, mâu thuẫn lợi ích các quốc gia…khiến Trung Đông như một bãi lầy mà không một quốc gia bên ngoài nào, hùng mạnh như Mỹ, cũng không dám đi sâu.
Iraq, Lybia và giờ tới Syria khiến giới tinh hoa chính trị thực dụng Mỹ đắn đo lựa chọn. Mỹ-PT chỉ tham gia qua tay người khác, nhưng khi con bài Thổ Nhĩ Kỳ, con bài quan trọng có tính quyết định nhất, bị vô hiệu hóa, khi Thổ Nhĩ Kỳ “không coi Mỹ-PT là bạn” thì Mỹ không có một cơ sở nào để bám víu tại Trung Đông. Chiến lược Trung Đông của Mỹ phải thay đổi.
Mỹ đã từng rút khỏi Việt Nam để tránh sa lầy thì người Mỹ để lại “nhà nước IS” và đám khủng bố quốc tế cho Nga giải quyết mà không cần sự hỗ trợ của Mỹ, để rời đi chẳng có gì là to tát, ghê gớm. Đó là chiến lược khôn ngoan đầy thực dụng của Mỹ.
Liệu Nga có tận diệt được IS và LIH hay không hay là theo vết xe đổ của Mỹ đã từng? Nên nhớ ngòi nổ rất nguy hiểm là các lực lượng người Kurd mà Mỹ đã hậu thuẫn, nuôi dưỡng để chấp nhận phải trả giá với Thổ Nhĩ Kỳ, không phải chuyện đùa của hậu chiến. Về nguồn góc sức mạnh, lý tưởng, dân tộc, người Kurd mạnh hơn hàng trăm lần IS.
Sự rời khỏi đầu tiên là rút toàn bộ VKHN tại căn cứ quan trong nhất là Incirlik-Thổ Nhĩ Kỳ đến căn cứ khác của Mỹ ở Rumania.
Mỹ không thể để VKHN ở đó khi đã từng bị hơn 7000 cảnh sát phong tỏa không phận, điện nước, vì Thổ Nhĩ Kỳ nghi ngờ đó là trung tâm chỉ huy cuộc đảo chính quân sự vừa qua. Phải chăng, Thổ Nhĩ Kỳ đã đặt một chân ra ngoài NATO?

Người Nga cứ tự nhiên tại Trung Đông và tại Ukraine miễn sao đừng để bị sa lầy, đừng để bị chảy máu. Hãy cẩn thận nhé Nga! Mỹ đang quay sang Châu Á-Thái Bình Dương là nơi quyết định tương lai của Thế giới.
ngocthong19.5@gmail.com

Thổ Nhĩ Kỳ: Trả giá


Thất bại bao giờ cũng kèm theo hậu quả là cái giá phải trả. Nhưng quan trọng là vươn lên hay thảm bại từ cái giá đó.
Hoạt động đối ngoại trong thời bình quan trọng như hoạt động quân sự trong thời chiến. Điều đó có nghĩa rằng sự sai lầm của hoạt động đối ngoại trong thời bình hay sai lầm của hoạt động quân sự trong thời chiến đều gây ra cho quốc gia có những hậu quả tai hại như nhau.
Quốc gia bị thảm họa trong thời chiến thì chúng ta dễ nhận thấy khi hoạt động quân sự bị thất bại từ trận này đến trận khác…Vậy, chính sách đối ngoại, do đó, hoạt động đối ngoại như thế nào thì được coi là sai lầm để khiến quốc gia thảm họa?
Biểu hiện sai lầm của đối ngoại trong thời bình chủ yếu có 4 vấn đề: 1, đất nước bị cô lập; 2, biến bạn, đồng minh thành kẻ thù (gây thù chuốc oán); 3, mất lòng tin với quốc gia khác; 4, đẩy đất nước vào miệng hố chiến tranh.
Với Thổ Nhĩ Kỳ, điều đáng buồn là trong 4 sai lầm trên, chính quyền của tổng thống Erdogan đã gần như mắc phải trừ điều thứ 4 là chưa xuất hiện.
Trả giá của Thổ Nhĩ Kỳ khi Syria bất ổn
Đang là bạn, bổng dưng Erdogan quay ngoắt đòi lật đổ chính quyền Assad và muốn chuyển giao một phần lãnh thổ của Syria dưới sự kiểm soát của Thổ Nhĩ Kỳ (vùng an toàn trên tuyến biến giới phía Bắc của Syria).
Bắt đầu từ năm 2011, Thổ Nhĩ Kỳ hùa với Mỹ-PT sử dụng cái gọi là lực lượng đối lập và các loại khủng bố như IS, al-Nusre (al-Qaeda) gây ra một cuộc chiến tranh xâm lược Syria bởi “đa quốc gia” qua tay kẻ khác, thực hiện chiến lược “hỗn loạn có điều khiển” tại Syria.
 “Đốt nhà hàng xóm láng giềng” là hành động sai lầm bởi gió có thể thay đổi hướng, điều đó có nghĩa là lửa có thể lây cháy nhà mình như thường.
Và tại Syria “gió đã đổi hướng” ngoài ý muốn của Ankara: Hàng chục cuộc đánh bom khủng bố liều chết đẫm máu gây ra tại đất nước Thổ Nhĩ Kỳ khiến hàng trăm người dân vô tội thiệt mạng. Hàng triệu người tị nạn tràn sang khiến Thổ Nhĩ Kỳ rơi vào tình trạng lộn xộn, nguy hiểm mà ngay châu Âu cũng kinh hoảng.  Đặc biệt, vào ngày 30/9/2015 khi Nga xuất hiện.
Mục tiêu của Nga can thiệp quân sự vào Syria là để bảo vệ Assad và tiêu diệt lực lượng khủng bố quốc tế mà trong đó có hơn 5000 tên gốc Nga đang đe dọa an ninh phía Nam quốc gia Nga. Nga cho rằng tác chiến với lực lượng này tại chiến trường Syria có lợi hơn.
Thực tế diến biến, kết quả cuộc chiến tại Syria chúng ta đã rõ, chính quyền Assad đã tồn tại vững chắc. Mọi toan tính gì đó của Thổ Nhĩ Kỳ tại Syria bị Nga phá sạch khiến Ankara cuống loạn phạm sai lầm nghiêm trọng: Đối đầu toàn diện với Nga.
Trong khi đó, vì lợi ích quốc gia, Mỹ cũng đang “chà đạp” lợi ích của đồng minh Thổ Nhĩ Kỳ khi công khai hỗ trợ, hậu thuẫn cho lực lượng người Kurd Syria vượt qua “làn ranh đỏ” mà Thổ Nhĩ Kỳ đặt ra (rất ngạo mạn) là lực lượng dân quân người Kurd Syria không được vượt qua phần phía Tây sông Euphrates (trong lãnh thổ của Syria).
Như vậy, mục tiêu tối thượng của đối ngoại là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Ankara, cụ thể là không cho phép người Kurd Turkey ở Đông Nam ly khai đã không thành công, đã bị Mỹ gián tiếp đe dọa khiến tổng thống cũng như thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ công khai: “Mỹ không phải là bạn”.
 Đối đầu và thách thức lợi ích với Nga và Mỹ-PT để thực hiện giấc mơ địa chính trị tại Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ đã “nếm đủ” đòn về kinh tế, an ninh, ổn định chính trị…buộc Ankara phải thay đổi nhận thức về hoạt động đối ngoại của mình trong thời gian qua.
Sự thay đổi này là “giọt nước cuối cùng” đã dẫn đến cuộc đảo chính quân sự ngày 15/7 vừa qua. Đảo chính thất bại, hơn 60 ngàn người đang bị thanh trừng, đang trong vòng lao lý.
Rất may mắn cho người dân Thổ Nhĩ Kỳ, nếu như đảo chính thành công, Thổ Nhĩ Kỳ đã thành một Syria thứ hai hay như Iraq, Lybia mà chúng ta đã thấy, biết, về chiến lược “vẽ lại bản đồ Trung Đông”.
Trả giá vì mất lòng tin với Mỹ-NATO và Nga.
Với Mỹ-NATO-EU thì hơn ai hết Thổ Nhĩ Kỳ và họ đã thừa biết lòng tin đôi bên đã cạn, đã sứt mẻ. Là một thành viên NATO, không dễ gì Thổ Nhĩ Kỳ ngay lập tức rời bỏ khối. Nhưng sau một loạt sự kiện xảy ra tại căn cứ không quân Incirlik, đặc biệt có thông tin cho rằng Mỹ đang tìm vị trí tại Bulgari, Cosovo để di chuyển VKHN tại đây, đã cho thấy lòng tin chiến lược của Mỹ-NATO với Thổ Nhĩ Kỳ không còn.
Ông cố vấn của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, Ilnur Cevik phát biểu: “Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không bao giờ đóng cửa căn cứ không quân Incirlik và sẽ tiếp tục hợp tác với Mỹ. Ấm lên trong quan hệ của chúng tôi với Nga sẽ không phải là một thay thế cho các mối quan hệ của chúng tôi với Mỹ- phương Tây.
Tuy nhiên, Mỹ-phương Tây phải tôn trọng thực tế rằng Thổ Nhĩ Kỳ có chính sách riêng của mình. Nếu chính sách đó trùng với lợi ích của Mỹ-phương Tây thì không sao, nhưng nếu không phù hợp, thì Thổ Nhĩ Kỳ có nghĩa vụ phải bảo vệ lợi ích của mình”.
Rõ ràng đây không phải là khẩu khí của một quốc gia chư hầu, không phải là điều Mỹ muốn nghe từ một thành viên NATO, nhưng lại là điều mà Mỹ-PT sẽ không để yên.
Với Nga, Nga sẽ tin ông Erdogan ngay khi mà mới đây ông ta đã “đâm sau lưng Nga một nhát dao”? Không bao giờ. Chính vì thế, trong đàm phán, Thổ Nhĩ Kỳ không có gì để mặc cả với Nga. Thổ Nhĩ Kỳ phải hy sinh một số quyền lợi để chứng minh, để “mua” lòng tin của Nga.
Chúng ta không ngạc nhiên khi Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố sẽ nối lại quan hệ bạn bè với Syria, sẽ không ngạc nhiên nếu như số lượng hàng hóa, vũ khí trang bị từ biên giới Thổ Nhĩ Kỳ tràn về Syria vào tay quân nổi dậy, khủng bố thánh chiến ngày càng giảm dần…Lòng tin Nga được khẳng định qua những điều này và cũng chính là sự hy sinh hay thay đổi mục tiêu địa chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ có lợi cho Nga-Syria.
Trả giá vì sự độc tài và ngạo mạn
Có thể Erdogan tuyên bố “Cuộc đảo chính là món quà của Chúa” là không sai bởi vì cuộc đảo chính đã dạy cho Erdogan một bài học nhớ đời, buộc ông ta phải dẹp bỏ tính độc tài và thói ngạo mạn…để không muốn bị như Gadafi hay Saddam.
Những hành động của Erdogan sau đây đã chứng minh cho điều đó:
Đầu tiên là tìm cách hợp tác với các đảng đối lập trong đó có đảng đối lập chính là đảng Cộng hòa nhân dân (CHP) chấp nhận cho CHP được tổ chức một cuộc biểu tình dân chủ sau 3 năm bị cấm.
Ông Erdogan buộc phải gìm lại ý muốn thực hiện chế độ Tổng thống lãnh đạo toàn đất nước, nguyên nhân khiến xã hội, các đảng đối lập phản đối quyết liệt, khi tuyên bố “Chúng tôi vẫn ở bên trong hệ thống nghị viện dân chủ”.
Vào ngày 25, Erdogan mời lãnh đạo CHP Kemal Kilicdaroglu và Chủ tịch Đảng Hành động Quốc gia (MHP), Devlet Bahceli, vào dinh Tổng thống để lắng nghe quan điểm của họ về âm mưu đảo chính và hậu quả của nó. 
Dù Erdogan có phớt lờ, lạnh nhạt với Đảng Dân chủ Nhân dân Kurd (HDP), nhưng Thủ tướng Binali Yildirim cho biết sau đó trong ngày, HDP được chào đón trong một cuộc họp chung, đã đồng ý với các CHP và MHP, trong việc sửa đổi hiến pháp.
Tiếp theo, Erdogan bỏ truy cứu những người đã phạm tội “phỉ báng Tổng thống” và đặc biệt đã treo một bức ảnh cỡ lớn của ông Mustafa Kemal Ataturk, một trong những người thành lập chế độ cộng hòa thế tục của Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, trước cửa chính của đảng cầm quyền AKP, đảng mà vừa mới đây đòi loại bỏ nguyên lý chủ nghĩa thế tục.
Rõ ràng ông Erdogan đã bắt bài hay đã quá hiểu điều kiện cần và đủ cho một cuộc “cách mạng màu” diễn ra là gì nên một loạt thay đổi chính trị nhằm đoàn kết dân tộc, ổn định xã hội…nhằm chống “diễn biến hòa bình” mà thế lực thù địch đang nhằm vào Thổ Nhĩ Kỳ.

“Hãy cho tôi biết bạn anh là ai tôi sẽ nói cho biết anh là người thế nào” là câu ngạn ngữ đúng và hay như chân lý của châu Âu mà Ankara nên soi rọi để hành động. Tất nhiên, khi đã bạn với IS, với quân khủng bố thánh chiến cực đoan…thì giá phải trả cũng là khủng bố, đánh bom liều chết... Gần mực thì phải đen mà thôi.

Thứ Năm, ngày 11 tháng 8 năm 2016

Cơn ác mộng của Mỹ-NATO-EU sau đêm 15/7.


Chính Mỹ-NATO-EU đã đẩy Thổ Nhĩ Kỳ vào tay Moscow, và chỉ sau một đêm 15/7, cục diện địa chính trị khu vực thay đổi tất cả mọi thứ.

Nếu như cuộc đảo chính quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ vừa qua “giết chết được Tổng thống Erdogan” thì bản đồ Trung Đông được vẽ lại và nguy cơ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 3 sẽ bùng nổ khi sự hỗn loạn tại Trung Đông nhốt chặt "gấu Nga" tại Biển Đen bởi eo biển Bosporus bị khống chế.
Tuy nhiên, cuộc đảo chính quân sự đã bị thất bại, hàng chục ngàn người bị thanh trừng tại Thổ Nhĩ Kỳ và chính kết quả đó đã tạo ra một cú địa chấn cực lớn trên 3 mặt: chính trị, quân sự và kinh tế mang tầm quốc tế.
Báo chí truyền thông Mỹ và phương Tây có vẻ như lờ đi sự kiện khủng khiếp này, nhưng khi NATO-EU đang hoảng loạn, trước một thành viên có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng đang “trở cờ” thì tê liệt phản ứng, “ngậm hột thị” là không có gì ngạc nhiên.
Thổ Nhĩ Kỳ đang rời dần NATO
Nếu như sự sụp đổ của Liên Xô dẫn đến tan rã Hiệp ước quân sự Warsaw thì cuộc đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ đã làm cho NATO khủng hoảng về tinh thần và lực lượng đãn đến nguy cơ không kém.
Các thành viên NATO, đặc biệt là những quốc gia vừa rời bỏ khối Warsaw gia nhập khối NATO đã hiểu rõ ràng vị thế của mình, thân phận của mình trong NATO dưới sự chỉ huy của Mỹ từ tấm gương Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau cuộc đảo chính, về thực chất thì Thổ Nhĩ Kỳ không còn mang trên mình trách nhiệm của một thành viên NATO. Về góc nhìn quân sự thì Thổ Nhĩ Kỳ mất khả năng chiến đấu, NATO đã bị mất đi một vị trí có địa chiến lược rất quan trọng ở phía Nam. Trục Mỹ-NATO-EU có vẽ như sắp bị gãy.
Đây là lý do chính khiến NATO hoản loạn thật sự và đang lo sợ liệu có sự sụp đổ như quân cờ domino hay không.
Với tình trạng Thổ Nhĩ Kỳ như hiện nay thì tốt nhất là NATO phải khai trừ ra khỏi khối càng sớm càng tốt trong khi nó chưa “lây nhiễm”. Hơn ai hết, ban lãnh đạo NATO quá hiểu điều này vì chính NATO đã tham gia đảo chính lật đổ Erdogan, trừ phi Erdogan đã bị như Cadafi.
Thực tế là, để duy trì quyền bá chủ toàn cầu của mình vào thế kỷ mới, Mỹ phải kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng và hành lang đường ống từ Qatar đến châu Âu; bao vây cô lập, làm tan rã Nga; xoay trục sang châu Á-TBD kiểm soát tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và sử dụng sức mạnh quân sự, kinh tế của mình để duy trì sự “hỗn loạn có điều khiển” tại những khu vực có địa chính trị, kinh tế quan trọng trên thế giới.
Nhưng, tại Trung Đông, Mỹ đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi coi thường những lợi ích an ninh quốc gia của các nước đồng minh, đã đẩy tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ vào tay Moscow, và chỉ sau một đêm, cục diện địa chính trị khu vực thay đổi tất cả mọi thứ.
Đảo chính thất bại làm rối loạn bàn cờ thế giới
Thứ nhất là bình thường hóa quan hệ Nga-Thổ Nhĩ Kỳ.
Mỹ-NATO đang có lợi thế khi tạo ra và đẩy mâu thuẫn Nga-Thổ Nhĩ Kỳ trở thành đối kháng. Tuy nhiên, khi 2 kẻ thù này làm lành với nhau, hợp tác với nhau sẽ báo trước một sự thay đổi địa chính trị lớn hơn nhiều, đó là, liên kết giữa Ankara-Tehran-Damascus và các đối tác khác của Nga trên khắp Âu Á.
Liên minh này tất yếu sẽ làm thay đổi bàn cờ địa chính trị toàn cầu, làm phá sản hoàn toàn chiến lược kiểm soát dòng chảy của năng lượng từ Qatar đến châu Âu của Mỹ-PT mà trong đó Thổ Nhĩ Kỳ là một mắt xích trọng yếu kết nối EU với Trung Đông, với châu Á đang dần trượt ra khỏi quỹ đạo địa chính trị của trục Mỹ-NATO-EU.
Nếu như liên minh này do Nga đứng đầu thì có thể sẽ mở ra một thời kỳ ổn định mới cho Trung Đông chống lại chiến lược “hỗn loạn có điều khiển” của Mỹ đang thực thi.
Ngày 09/8, Tổng thống Erdogan và Tổng thống Nga Putin đã có cuộc gặp lịch sử tại Saint Petersburg. Và sẽ có 2 vấn đề lớn được giải quyết:
1, Triển khai Turkstream vốn đã bị Mỹ-NATO-EU ép Thổ Nhĩ Kỳ phải loại bỏ. Đây là đường ống dẫn khí tự nhiên sẽ đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào làm chủ trung tâm năng lượng lớn nhất phía nam của châu Âu.
Đừng coi thường, điều này là rất lớn. Đây là một cú đánh lớn đến kế hoạch của Washington trong việc kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng chảy vào châu Âu từ Trung Đông và châu Á để đảm bảo họ buộc phải sống bằng tiền đô la Mỹ.
Nếu thỏa thuận được triển khai, Nga có quyền truy cập vào các thị trường phát triển mạnh EU thông qua hành lang phía Nam sẽ tăng cường quan hệ giữa hai châu lục, mở rộng việc sử dụng đồng rúp và đồng euro trong giao dịch năng lượng, và tạo ra một khu vực thương mại tự do từ Lisbon đến Vladivostok.
Và lúc đó, chú Sam sẽ “được xem từ băng ghế dự bị”, sức mạnh “đô la-dầu lửa” đã bị hạn chế, còn Ukraine thì sẽ như “một con đĩ già” cho không cũng chẳng ai thèm, nên sẽ “tự đi vào khuôn khổ”.
Kế hoạch triển khai Turkstream đã quá rõ ràng cho nên Bulgaria vội vàng thành lập nhóm nghiên cứu với Nga về South Stream, sự việc mà cách đây không lâu Bulgaria, dưới áp lực của EU, đã thẳng thừng từ chối hợp tác với Nga. Điều này chứng tỏ EU bây giờ cũng không quản được thành viên của mình bởi hội chứng Brexit sẽ có Bulexit…
2, Giải pháp kết thúc cuộc chiến Syria. Thổ Nhĩ Kỳ phải có một nỗ lực để đóng cửa biên giới, ngăn chặn các chiến binh Hồi giáo qua lại và ra vào Syria, đáp lại, Nga bằng quyền lực của mình sẽ ngăn chặn sự xuất hiện của một nhà nước độc lập của người Kurd trên biên giới phía nam của Thổ Nhĩ Kỳ.
Nếu như Thổ Nhĩ Kỳ quyết tâm thực hiện thì coi như không chỉ IS mà ngay cả lực lượng “ôn hòa” cũng không còn đường sống khi “động mạch chủ bị cắt”. Trục Ankara-Tehran-Damascus sẽ là trục ổn định cho Trung Đông hoặc ít nhất khống chế được sự “hỗn loạn”. Hòa bình cho Syria, tránh cho Syria trong tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ như Lybia, sẽ có hy vọng đạt được trong tương lai gần.
Thứ hai là xác định vai trò, vị trí Thổ Nhĩ Kỳ với Nga, cùng Nga trong tương tác mới trên bản đồ địa chính trị thế giới.
Quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Syria, quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Trung Quốc, quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Nga và quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Iran sẽ thay đổi. Điều này sẽ thay đổi thế giới.
Bắt đầu từ đây, Nga đã đi những nước cờ sắc sảo, bình tĩnh, chắc chắn từng nước một để phá nát NATO. Hiện tại, “mắt xích Thổ Nhĩ Kỳ” của NATO bị đứt thì hệ thống phòng thủ của Nga tại Biển Đen không còn bị áp lực, đã tạo điều kiện cho Nga vươn tay ra các khu vực khác.
Có thể nói, đảo chính quân sự bị thất bại chỉ là “giọt nước cuối cùng” để dẫn đến việc bình thường hóa quan hệ Nga-Thổ Nhĩ Kỳ mà hợp tác Nga-Thổ Nhĩ Kỳ trên 2 vấn đề đã nêu trên là một cú chấn động địa chính trị mạnh nhất kể từ vụ Liên Xô sụp đổ.
Chưa biết trục Mỹ-NATO-EU sẽ đối phó ra sao, nhưng sự chuẩn bị của Thổ Nhĩ Kỳ để đối phó với đảo chính quân sự lần 2 và “cách mạng màu” có thể xảy ra đã chứng tỏ một nhận thức rằng, Mỹ-NATO-EU không đời nào để yên.
Đang có một cuộc cách mạng lớn trong lòng Thổ Nhĩ Kỳ sau đảo chính. Ngay cả ông Erdogan cũng bớt độc đoán, hết ngạo mạn thường thấy, tất cả là nhằm tập trung vào mục tiêu đoàn kết dân tộc để chống thù trong giặc ngoài đang rình rập đe dọa, mà chúng ta sẽ biết sau đây.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 8 năm 2016

Đừng dại thách thức với nước Mỹ!


Trên bàn cờ Trung Đông, Mỹ, Nga là người chơi chứ không phải là Thổ Nhĩ Kỳ.
Mỹ là cường quốc số 1 thế giới, Mỹ đã bá chủ thế giới kể từ khi Liên Xô tan rã đến nay. Vì thế, trong quan hệ quốc tế, Mỹ không có bạn mà chỉ có hoặc là các quốc gia chư hầu, tôi tớ hoặc là kẻ thù. Đó là một thực tế logic khách quan.
Nếu như các cuộc chiến tranh nóng do Mỹ trực tiếp tiến hành sau chiến tranh lạnh kết thúc, đều được cho là nhằm vào các quốc gia thù địch, “chứa chấp khủng bố” như Iraq, Lybia…khiến người ta đang hồ nghi, thì cuộc đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ đã khẳng định điều đó.
Mỹ-NATO ra tay!
Đảo chính hay “cách mạng màu” tại các nước thành viên khối NATO hay châu Âu là thường thấy và đều có “dấu vân tay” của Mỹ gần như là sự công nhận mặc nhiên. Tuy nhiên, đảo chính quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ có những điểm đặc biệt, hy hữu.
Thứ nhất, có 3 trong số 5 trung đoàn lính Thổ Nhĩ Kỳ thuộc “Quân đoàn phản ứng nhanh của NATO” tham gia đảo chính.
Thứ hai là Trung tâm chỉ huy đảo chính lại là từ căn cứ quân sự của NATO đặt trong lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ, căn cứ không quân Incirlik.
Thứ ba, do đó, kết luận rút ra là chính NATO-Mỹ thực hiện đảo chính quân sự nhằm vào một thành viên chủ chốt của NATO được xếp thứ 2 sau Mỹ về lực lượng.
Đó là lý do vì sao ngoài việc thanh trừng quân đội (chủ yếu là thành phần thân NATO), ông Erdogan cho lực lượng bao vây, khống chế căn cứ không quân của Mỹ-NATO Incirlik.
Incirlik là một trong 6 căn cứ quan trọng của NATO là trung tâm chỉ huy đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Ai chỉ huy NATO? Dĩ nhiên là Mỹ. Nếu như ai đó chưa tin Mỹ dùng NATO để khống chế châu Âu, NATO là cái gậy chỉ huy của Mỹ, là công cụ để Mỹ bá chủ thế giới và nếu ai còn hoang tưởng NATO “bảo vệ châu Âu”…thì cú đảo chính quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm vào một quốc gia có lực lượng quân sự hùng hậu chỉ sau Mỹ là một sự cảnh cáo nghiêm khắc cho bất cứ thành viên NATO nào, kể cả Pháp là quốc gia có VKHN.
Điều 1, mọi thành viên NATO đều phải tuân thủ chỉ huy của Mỹ (vì Mỹ có hàng chục căn cứ quân sự trên khắp châu Âu, Mỹ bỏ ra hơn 75% ngân sách nuôi NATO không phải là vô dụng).
Điều 2, nếu chính phủ nào không tuân thủ thì sẽ bị “cách mạng màu” hoặc bị đảo chính hoặc bị Mỹ coi là kẻ thù. Chấm hết.
Thời gian gần đây, việc Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận ra sai lầm khi bị NATO biến thành tên lính xung kích đối đầu với Nga, trong khi Mỹ-NATO bất chấp lợi ích quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ; việc ban lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đứng đầu là Tổng thống Erdogan muốn thực hiện một chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ…đã thách thức đến lợi ích Mỹ đi chệch hướng chỉ huy của Mỹ đã khiến Mỹ ra tay “muốn giết chết Erdogan” như Thổ Nhĩ Kỳ đã công khai tố cáo. Nhưng chỉ vậy thôi thì chưa phải là bài học mà Mỹ muốn dạy cho tất cả.
Tờ báo Yenissafak (1) của Thổ Nhĩ Kỳ đã công khai cáo buộc, phanh phui kế hoạch đảo chính ngày 15/7 của Mỹ “khủng khiếp, hoành tráng” hơn nhiều khi tung ra lời khai của một trong những kẻ cầm đầu đảo chính bị bắt.
Theo Yenisafak, đây là kế hoạch “xâm lược đa quốc gia” (bao gồm 8-10 ngàn quân IS và các lực lượng được Mỹ-phương Tây hậu thuẫn, nuôi dưỡng tại Iraq, Iran, Syria…hơn 50 ngàn quân) được vạch ra và chỉ huy phối hợp tổ chức thực hiện tại căn cứ không quân Incirlik Adana Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài trong 12 tuần, nhằm biến Thổ Nhĩ Kỳ thành một Syria thứ 2, Istanbul sẽ ly khai và kiểm soát, khống chế eo biển Bosporus.
Rõ ràng, âm mưu này rất trùng khớp với kiểu “sản xuất nội chiến”, “chế biến hỗn loạn” của Mỹ-phương Tây tại Trung Đông và nhiều nơi trên thế giới mà chúng ta đã chiêm ngưỡng.
Thỗ Nhĩ Kỳ, hãy đợi đấy!
Đáng tiếc là kế hoạch bước đầu tiên là “giết chết Erdogan” không thành, khiến cho các bước tiếp theo không dám manh động. Cuộc đảo chính quân sự được coi là thất bại. Hiệp 1, thế lực bên ngoài, bên trong bên đảo chính chủ quan, nhao lên tấn công bị phản đòn thủng lưới nhưng vẫn còn hiệp 2.
Lớp bụi sau đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ chỉ mới lắng xuống, điều đó có nghĩa là chỉ cần có gió, cấp gió bao nhiêu là đám bụi sẽ mù mịt bốc cao bấy nhiêu mà thôi.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, do chính sách đối ngoại sai lầm “chơi với rất nhiều dao” của Ankara, như hợp tác cả với IS, là nơi trung chuyển, tập kết lực lượng thánh chiến khủng bố…cho nên, những “con sói độc” không chỉ có “1 chân trong nhà” mà để cả “4 chân trong nhà”.
Ngoài ra, là một thành viên NATO lâu năm, khác với Ukraine, ảnh hưởng của Mỹ-phương Tây trong hệ thống chính trị và quân đội Thổ Nhĩ Kỳ là rất lớn. Tuy nhiên, nó còn đi xa hơn thế. Sự tiếp xúc lâu dài với ảnh hưởng từ Hoa Kỳ có nghĩa là ngày nay, nhiều thành phần cốt lõi của xã hội Thổ Nhĩ Kỳ, ít nhất là tầng lớp trí thức, đã bị đồng hóa theo hình ảnh ông chủ của họ: những kẻ “tạo ra hiện thực” ở Washington và Wall Street.
Vì thế, dù Erdogan có thanh trừng bao nhiêu cũng không thể một lúc gột sạch hết ảnh hưởng của Mỹ-PT trong quân đội, xã hội…và do đó, Erdogan thừa biết, đảo chính lật đổ ông ta thực hiện còn dễ dàng, thuận lợi hơn Mỹ-phương Tây đã làm ở Ukraine nhiều lần.
Đừng dại đùa với nước Mỹ, Mỹ chỉ lợi dụng được Thổ Nhĩ Kỳ chứ Thổ Nhĩ Kỳ không lợi dụng được Mỹ, ăn chia sẽ không bao giờ đều và khi cần thiết, Mỹ sổ toẹt cái gọi là lợi ích quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ như thường. Kết thân làm chư hầu với Mỹ thì dễ, nhưng rứt ra là hơi bị khó đấy.
Erdogan giờ biết rằng, ông ta có sự ủng hộ của đa số dân chúng, nhưng con đường chuyển đổi từ vị trí tay sai của NATO sang một quốc gia có nền đối ngoại độc lập, tự chủ, sẽ đầy chông gai, và chắc chắn Mỹ-phương Tây sẽ sử dụng mọi phương án mà họ có để hạ gục Erdogan và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ.
 Sau đảo chính là thanh trừng…Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang như con cua trong thời kỳ lột vỏ. Tồn tại, giữ nguyên tỷ số trong hiệp 1 hay bị đánh bại chung cuộc phụ thuộc vào lèo lái tỉnh táo, sáng suốt của Erdogan.

Chúng ta sẽ quan sát, phân tích, những bước đi tích cực, tỉnh táo của Erdogan cùng với Bộ tham mưu của ông ta trong kỳ tới.

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 7 năm 2016

Phản ứng của Nga sau phán quyết của PCA?


Mối quan hệ quốc tế tay ba giữa Việt Nam-Trung Quốc-Nga trong thời gian gần đây đã khiến dư luận Việt Nam quan tâm. Nhiều câu hỏi, nghi ngờ đặt ra trong đó chủ yếu là mối quan hệ hiện nay Việt Nam-Nga như thế nào? Nga ủng hộ quan điểm, lập trường của Trung Quốc và đang chống Việt Nam trên Biển Đông?...
Không ít người cho rằng lập trường của Nga về Biển Đông là ủng hộ Trung Quốc và thậm chí có học giả còn nêu “Cảnh giác trên Biển Đông sau tuyên bố Trung-Nga” hoặc “Trong tâm khảm người Việt, dân tộc Nga, con người Nga văn hóa Nga vẫn thấm đẫm nhân hậu và yêu thương. Chỉ có điều, chính trị dường như đã đổi thay”…
Vậy lập trường quan điểm Nga về Biển Đông ra sao? Đặc biệt, sau phán quyết của PCA (coi “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là vô giá trị) thì Nga sẽ phản ứng như thế nào? Nga ủng hộ Trung Quốc bằng cách phản đối, không công nhận phán quyết hay im lặng?
Nga ủng hộ Trung Quốc hay Việt Nam trên Biển Đông?
Ủng hộ ai thì phải căn cứ vào lời nói và đặc biệt là hành động. Trước hết là về lời nói (tuyên bố về quan điểm, lập trường, biện pháp…) chúng ta lấy tuyên bố của ngài đại sứ Nga tại Việt Nam làm chuẩn mực về độ chuẩn xác.
 Đại sứ Nga tại Việt Nam ngài Konstantin Vnukov, cố gắng làm rõ quan điểm của nước này (Nga giữ lập trường rõ ràng về tranh chấp ở Biển Đông và không phải là quan điểm nước đôi) vì: “Trước thềm Tòa án Trọng tài quốc tế ở Hague ra phán quyết vụ kiện Biển Đông của Philippines vào ngày 12/7, các phương tiện truyền thông của một số quốc gia cố tình xuyên tạc quan điểm của Nga về vấn đề Biển Đông”.
Quan điểm Nga có 4 điểm cần chú ý:
Thứ nhất: Nga có lợi ích quốc gia ở Biển Đông và Việt Nam.
Thứ hai: Chống quân sự hóa Biển Đông.
Thứ ba: Tất cả các vấn đề trong khu vực được giải quyết bằng các biện pháp chính trị và ngoại giao, thông qua đàm phán giữa các nước có tranh chấp. Lối thoát tốt nhất và duy nhất ra khỏi tình trạng này là việc tổ chức cuộc đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cụ thể, đó là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các tài liệu đã được thảo ra giữa các nước ASEAN và Trung Quốc. Trên cơ sở các tài liệu này nên tìm kiếm những giải pháp mà các bên đều có thể chấp nhận được.
Thứ tư: Phản đối quốc tế hóa tranh chấp, chống lại sự tham gia của các bên không liên quan trực tiếp đến cuộc tranh chấp này.
Chúng ta lần lượt phân tích để hiểu bản chất tuyên bố Nga. Riêng điểm thứ nhât để sau cùng vì liên quan đến phản ứng của Nga sau phán quyết của PCA
Thứ nhất, Nga chống lại hành động quân sự hóa Biển Đông. Vậy quan điểm này Nga chống ai? Ai đang bị tố cáo là đã đang bồi lấp các đảo nhân tạo, đưa vũ khí trang bị ra đảo…để quân sự hóa Biển Đông? Đương nhiên không phải là Việt Nam.
Thứ hai, Nga muốn giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình thông qua đàm phán song phương, đa phương, trên cơ sở những thỏa thuận giữa ASEAN-Trung Quốc và pháp luật quốc tế UNCLOS.
Nên hiểu rằng, Tòa trọng tài thường trực ở The Hague (PCA) là một phần của UNCLOS. Khi dùng UNCLOS để giải quyết tranh cãi thì không thể thiếu PCA. Đây là điều mà không cần nói rõ ra ai cũng hiểu, thế nhưng có những bài báo khi trích dẫn đã cố tình cắt mất nội dung khiến người đọc hiểu lầm tai hại.
Chẳng hạn, người ta trích dẫn về quan điểm Nga để phân tích chủ đề “Sự thật vẫn rất mù mờ” bằng những đoạn ngắn không hết ý, bị cắt cụt…như sau: “Tất cả các vấn đề trong khu vực được giải quyết bằng các biện pháp chính trị và ngoại giao, thông qua cuộc đàm phán giữa các nước có tranh chấp” (chấm hết) hay “Lối thoát duy nhất là đàm phán” (chấm hết).
Với cách làm thiếu thiện chí, hoặc “kém chuyên môn” cho nên, họ cho rằng “Nga đã công khai đòi gạt cơ quan tài phán quốc tế về UNCLOS (PCA) ra ngoài trong bối cảnh phán quyết của PCA đã sắp cận kề”…vì Nga đã chấp nhận phương án do Trung Quốc chuẩn bị sẵn: “Tất cả các tranh chấp liên quan cần được giải quyết thông qua đàm phán”.
Thứ ba là Nga chống “quốc tế hóa tranh chấp” chứ không chống “quốc tế hóa” Biển Đông.
“Quốc tế hóa tranh chấp” là vấn đề thuộc về phạm trù “quốc tế hóa Biển Đông”.
Biển Đông là rộng lớn do đó mọi hoạt động trên Biển Đông như tranh chấp, an toàn hàng hải, tự do hàng hải, hàng không…đều có tầm ảnh hưởng đến khu vực và thế giới. Vì thế những vấn đề nào chỉ liên quan đến 2 nước thì song phương giải quyết (Việt Nam-Trung Quốc phân định Vịnh Bắc Bộ), thuộc về nhiều nước thì đàm phán đa phương…nhưng tất cả trên cơ sở luật pháp quốc tế cụ thể là UNCLOS, đó là quan điểm nhất quán của Việt Nam về “quốc tế hóa’ Biển Đông.
Quốc tế hóa tranh chấp thực chất là sự can thiệp của bên thứ 3, của nhóm, của thế giới vào tranh chấp. Nga chống lại quan điểm này vì những điểm nóng trên thế giới như Ukraine, Trung Đông, Syria…vì sự can thiệp của nhiều bên, nhiều quyền lợi, đã khiến cho tình hình be bét, hỗn loạn như chúng ta đã thấy và cũng nhằm vào Mỹ khi không muốn Mỹ nhảy vào Biển Đông sẽ tạo ra một tiền lệ không hay cho việc tranh chấp giữa Nga và Nhật Bản trên quần đảo Curil.
Tuy nhiên, quan điểm của Việt Nam về “quốc tế hóa tranh chấp” trên Biển Đông thì Việt Nam OK hay NO đều có lựa chọn. Chẳng hạn, Việt Nam sẽ OK nhóm G7 can thiệp để buộc Trung Quốc phải tuân thủ phán quyết PCA nhưng sẽ NO hoặc không cần thiết khi cùng tuần tra quần đảo Trường Sa trên Biển Đông với Mỹ…
Do đó việc Nga chống quốc tế hóa tranh chấp là chống sự can thiệp của G7…là không đồng quan điểm với Việt Nam nhưng chẳng khiến Việt Nam tổn thương vì G7 cũng chẳng làm được gì dể buộc Trung Quốc tuân thủ phán quyết của PCA.
Hiện tại, trước phán quyết của PCA, trên Biển Đông chưa có quốc gia nào thuộc bên thứ 3 xía vào tranh chấp. Mỹ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền, điều này được chứng minh ở vụ Scarborough, dù Philipines là đồng minh.
Phản ứng của Nga sau phán quyết PCA là gì?
Thực ra hỏi điều này là ngớ ngẩn, không am hiểu thời cuộc, vì không việc gì phải hỏi.
Trở lại vấn đề đầu tiên, Nga tuyên bố có lợi ích ở Biển Đông và Việt Nam.
Một trong  34 “Thành phố dầu khí” Việt – Nga trên Biển Đông
Nga hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam từ năm 80 của thế kỷ trước.
Bắt đầu từ khi Trung Quốc trỗi dậy, hung hăng tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông. Theo đó, đã không ít các học giả, tướng tá Trung Quốc đòi biến Biển Đông thành biển lửa khi tấn công các giếng dầu mọc lên như thành phố trên biển của Việt Nam-Nga.
Hành động đó của Trung Quốc khiến cho một số công ty khai thác dầu khí nước ngoài hợp tác với Việt Nam như của Anh, Mỹ, Ấn Độ lo sợ im lặng rút lui. Liên bang Nga thì sao?
Các mỏ dầu khí trong thềm lục địa và EEZ của Việt Nam được Nga-Việt tiếp tục phát hiện, khai thác mặc cho Trung Quốc thông qua các “hỏa lực mồm” gào thét đe dọa…
Hợp tác quốc phòng Việt Nam-Nga có độ tin cậy cao. Vũ khí Nga được bán cho Việt Nam để phòng thủ biển gồm những thứ tiên tiến hiện đại nhất đủ sức răn đe thế lực thù địch.
Như vậy, Nga và Việt Nam (đương nhiên) đã sổ toẹt cái “đường lưỡi bò” từ khi mới hình thành chứ đâu phải chờ đến phán quyết của PCA, đúng không?
Ở vào chiến lược toàn cầu, Nga không muốn Trung Quốc, Mỹ làm chủ Biển Đông, Nga muốn hợp tác với ASEAN, cho nên, không có Việt Nam thì Nga vẫn không muốn “đường lưỡi bò” của Trung Quốc thành hiện thực.

Vì thế, nếu như Trung Quốc tuyên bố “Trung Quốc không biết, không quan tâm đến phán quyết của PCA” thì Nga việc gì phải biết, phải quan tâm đến điều này. Chắc chắn là như thế.

Thứ Năm, ngày 07 tháng 7 năm 2016

Tại sao tàu sân bay Mỹ dám nghênh ngang “trước mũi” Trung Quốc?


Một khi Trung Quốc đã không dám bắn chìm tàu sân bay Mỹ thì hạm đội tàu sân bay Mỹ luôn là một lực lượng răn đe mạnh, có hiệu quả.
Việc Mỹ đưa 2 hạm đội tàu sân bay đến Biển Đông tập trận, diễu võ dương oai đã có rất nhiều phân tích phán đoán mục tiêu của hành động này.
Đa phần đều cho rằng, đó là hành động răn đe Trung Quốc trước lúc PCA phán quyết vụ Philipines kiện Trung Quốc mà theo dự kiến phán quyết có lợi cho Philipines.
Vậy phán quyết PCA thì có gì ghê gớm mà khiến Trung Quốc quẫn lên, hung hăng như thế?
Trung Quốc là nước lớn, đang ôm mộng bá chủ thế giới, có quyền lực xoay chuyển địa cầu thì có sợ ai, cho nên, cái tuyên bố của Tòa trọng tài thường trực UNCLOS (PCA) chả là cái giá trị gì với Trung Quốc.
Ngay như nghị quyết của HĐBALHQ mà một số quốc gia nhỏ, khi nghị quyết đó không đáp ứng lợi ích quốc gia, họ vẫn bỏ qua như không nữa là Trung Quốc, nữa là PCA…
Vì thế hy vọng Trung Quốc tuân thủ cái phán quyết của PCA là hoang tưởng.
Tuy nhiên, phán quyết của PCA trong vụ Philipines kiện Trung Quốc có một đặc biệt lưu ý là, nó phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông về mặt pháp lý, cho nên, nó cung cấp cho không chỉ Philipines mà toàn bộ khu vực Biển Đông và thế giới có một quan điểm chung, một góc nhìn rõ về cái chủ quyền trong “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tuyên bố, rằng: Nó chỉ có được khi chỉ khi cướp đoạt, chiếm đoạt.
Điều này có nghĩa là sau khi phán quyết (nếu phán quyết “đường lưỡi bò” là vô giá trị) thì mọi hành động của Trung Quốc mang tính thực thi pháp luật trên vùng biển này được coi là vi phạm luật pháp quốc tế, được coi là hành động đe dọa đến an toàn, tự do hàng hải.
Chỉ thế thôi. Trung Quốc tôn trọng phán quyết hay không thì tùy, vì chẳng ai có đủ tài lực để bắt Trung Quốc thực thi, nhưng liệu Trung Quốc đã đủ tài lực bá chủ thế giới chưa để công khai thách thức luật pháp quốc tế, thách thức an toàn tự do hàng hải…thì Bắc Kinh phải “suy nghĩ 2 lần”.
Do đó, phán quyết của PCA nó như con virus độc, gây nguy hiểm cực lớn với “phần mềm” ý đồ bành trướng chủ quyền Trung Quốc, cho nên, lo lắng, tức tối, khó chịu…là đương nhiên. Chắc chắn phản ứng của Trung Quốc sau phán quyết là tiêu cực để thách thức phán quyết của PCA.
Trung Quốc sẽ tuyên bố ADIZ trên Biển Đông? Sẽ bồi lấp Scarborough? Hay tung hết toàn bộ Lực lượng Hải cảnh ra họa động nghênh ngang trên Biển Đông, tuần tra, khiêu khích…để cố chứng tỏ họ đang thực thi pháp luật Trung Quốc trên vùng biển mà họ tuyên bố chủ quyền, thách thức cái phán quyết của PCA coi tuyên bố chủ quyền của họ là vô giá trị?
Mọi phản ứng tiêu cực của một Trung Quốc đang trỗi dậy đều có thể xảy ra mà ở đây, chúng ta không bàn đến. Chúng ta chỉ quan tâm về góc độ quân sự việc Mỹ điều 2 hạm đội tàu sân bay đến Biển Đông.
Mục đích Mỹ điều 2 hạm đội tàu sân bay (CSG) đến Biển Đông tập trận này nọ thực chất là bảo vệ an toàn tự do hàng hải mà Mỹ, với vai trò là một cường quốc Châu Á-Thái Bình Dương đang đề cao và cổ súy.
Hành động của Mỹ là thách thức, răn đe Trung Quốc vì phản ứng tiêu cực của Trung Quốc (như đã dẫn ở trên) có thể xảy ra sau phán quyết PCA là thách thức, đe dọa đến an toàn tự do hàng hải.
Vậy, liệu tàu sân bay Mỹ có đủ sức răn đe Trung Quốc như ngày nào trong đợt khủng hoảng eo biển Đài Loan năm 1996? Liệu Mỹ có coi thường chiến lược A2/AD trứ danh của Trung Quốc đã đang triển khai?
Ngay như Hải quân Trung Quốc, muốn tiêu diệt được một hạm đội tàu sân bay Mỹ thì phải mất 40% lực lượng (tính toán của chuyên gia quân sự Nga), hoặc như tuần dương hạm lớp Ticonderoga (thuộc CSG) có thể phóng một loạt 122 quả tên lửa phòng không. Các chuyên gia Trung Quốc đã tính phải cần 150 đến 200 máy bay SU-27 của Trung Quốc đánh “hội đồng” mới diệt được chiến hạm này.
Để đối phó với chiến thuật A2/AD Mỹ đã có chiến thuật tác chiến không-biển. Tuy nhiên, A2/AD mới được biết được trên lý thuyết, quảng cáo, chưa thấy “sát thủ diệt tàu sân bay” DF-26, hay DF-31 thử mục tiêu bao giờ, trong khi đó CSG của Mỹ là thật.
Như vậy, rõ ràng Hạm đội tàu sân bay Mỹ (CSG) có một sức mạnh khủng khiếp mà không có một lực lượng đối đầu nào thắng được nó trừ phi bắn chìm được tàu sân bay. Đó là một thực tế quân sự đơn thuần.
Tàu sân bay là biểu tượng của sức mạnh quốc gia. Dễ nhận thấy, trên thế giới này, trừ Nga ra là Mỹ không dùng hạm đội tàu sân bay để de dọa, uy hiếp, vì trên thế giới này, ngoài Nga ra, không một quốc gia nào dám bắn chìm tàu sân bay Mỹ.
Với Trung Quốc, trong chiến lược A2/AD, bằng hệ thống tên lửa các loại, Trung Quốc, cứ cho là có thể bắn chìm tàu sân bay Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc có dám bắn chìm hay không lại là chuyện khác.
Chưa kể hàng tỷ đô la tài sản, tàu sân bay Mỹ chứa gần 6000 binh sỹ. Trung Quốc có dám dùng một quả tên lửa DF-26 hay DF-31 gì đó như quảng cáo để diệt gọn 6000 quân Mỹ không? Câu trả lời là “KHÔNG”.
Vì sao vậy? Vì Trung Quốc không có đủ khả năng đối phó với hậu quả.
Bản thân tàu sân bay chính là sự răn đe, nó như một “Trân Châu Cảng” di động. Động vào nó, bắn chìm nó cũng giống như khai trận “Trân Châu Cảng” buộc Mỹ sẽ vào cuộc với tất cả sức mạnh, quyền lực mà không loại trừ bằng đòn tấn công phủ đầu hạt nhân.
Năng lực tấn công và phòng thủ khi chiến tranh hạt nhân xảy ra thì Trung Quốc chỉ là cái móng tay so với Mỹ, sức răn đe hạt nhân của Trung Quốc với Mỹ không đủ trọng lượng để ngăn chặn Mỹ ngừng tay nhấn nút tấn công đòn phủ đầu.

Tàu sân bay Mỹ được vũ khí hạt nhân Mỹ “bảo kê”, cho nên, chừng nào Trung Quốc có tiềm lực hạt nhân như Nga để nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân thì “cả hai cùng chết” mới khiến cái tàu sân bay Mỹ hết nghênh ngang, còn không thì hãy đợi đấy.

Thứ Tư, ngày 29 tháng 6 năm 2016

Rút khỏi UNCLOS, Trung Quốc sẽ dùng “luật rừng”?


Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông khi không tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS thì chỉ có thể là biện pháp quân sự.
Luật pháp quốc tế trên biển có “tính lịch sử và truyền thống phải được tôn trọng” như tuyên bố của Mỹ, đó chính là UNCLOS.
Tranh chấp trên Biển Đông, tự do an toàn hàng hải trên Biển Đông phải luôn lấy UNCLOS để giải quyết mà ngay cả Mỹ-cường quốc quân sự, kinh tế số 1 thế giới, dù không phải là thành viên của UNCLOS cũng đã, đang tôn trọng, tuân thủ.
Điều gì sẽ xảy ra nếu như, Trung Quốc, một nước lớn thuộc bên tranh chấp, một nước lớn có sức mạnh quân sự hùng hậu, có tư tưởng bành trướng lại bất chấp luật lệ trong phương cách giải quyết?
UNCLOS dưới góc nhìn an ninh chủ quyền
Tuyên bố lãnh hải quốc gia là tuyên bố chủ quyền trên biển của quốc gia đó. Đây là mấu chốt vấn đề mà nhiều quốc gia từ việc tuyên bố lãnh hải của mình rộng bao nhiêu hải lý đến việc phê chuẩn để trở thành thành viên của UNCLOS hay không.
Trước khi có UNCLOS, tùy theo khả năng quốc phòng mà các quốc gia ven biển tuyên bố vùng lãnh hải của mình. Những nước có lực lượng hải quân hùng hậu thường tuyên bố lãnh hải hẹp, những nước yếu thì tuyên bố rộng hơn.
Với Trung Quốc. UNCLOS trước đây luôn là điều kiện và phương tiện để Trung Quốc bảo vệ an ninh chủ quyền.
Trong tình hình thế đang bị đẩy vào cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Mỹ đưa Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, can thiệp và đe dọa Trung Quốc thì ngày 4/9/1959, Bắc Kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý.
Cuộc khủng hoảng lần thứ 3 từ tháng 7/1995 đến ngày 11/3/1996. Mỹ cũng lập tức điều 2 nhóm tàu sân bay chiến đấu đi vào eo biển Đài Loan sẵn sàng quyết chiến, khiến Trung Quốc lùi bước, xuống thang để “tránh xung đột với Mỹ”.
Và chính thời điểm này, năm 1996, không còn cách nào khác, Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dù rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc thời đó thừa biết tại sao Mỹ không phê chuẩn UNCLOS và rất muốn cũng như Mỹ, bởi tư tưởng bành trướng, cậy mạnh vốn có của mình.
Như vậy, tuyên bố lãnh hải 12 hải lý và tiếp theo là phê chuẩn UNCLOS năm 1996 của Trung Quốc xảy ra chỉ khi khả năng quân sự của Trung Quốc không đủ sức ngăn cản được Mỹ trên eo biển Đài Loan, vùng biển này có nguy cơ mất an toàn khi Hải quân Mỹ tự tung tự tác.
Việc Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dùng nó làm vũ khí đấu tranh, hạn chế được sự “tự do hàng hải” của Mỹ hoặc ít nhất làm cho Mỹ do dự, tính toán khi muốn “tự do hàng hải” kiểu Mỹ trong vùng biển thuộc điều chỉnh của UNCLOS mà Trung Quốc đã phê chuẩn.
Việt Nam cùng các quốc gia khác trên Biển Đông không muốn chiến tranh, muốn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên có sở luật pháp quốc tế và do đó cũng như Trung Quốc trước đây, UNCLOS chính là phương tiện và điều kiện để đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền.
Chính UNCLOS ngăn chặn dã tâm bành trướng chủ quyền của Trung Quốc về mặt pháp lý, nên thế lực diều hâu trong giới cầm quyền Bắc Kinh, khi cảm thấy có chút cơ bắp, lập tức phê phán các bậc tiền bối đã phê chuẩn UNCLOS, cho rằng đây là công ước “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc.
Sự “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc mà UNCLOS tạo ra chỉ có thể là bành trướng chủ quyền biển đảo.
Tình thế Biển Đông khi Trung Quốc rút khỏi UNCLOS
Vụ kiện của Philipines đang sắp đến giờ phán quyết có lợi cho Philipines, có nghĩa là cơ sở về tuyên bố “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là không có giá trị. Đây là một thắng lợi về mặt pháp lý và tất nhiên sẽ là trọn vẹn, lý tưởng hơn nếu như Trung Quốc tuân thủ phán quyết của Tòa.
Đáng tiếc là Trung Quốc đã cho thấy họ không bao giờ tuân thủ. Trung Quốc đã dùng rất nhiều cách để chống phá, trong đó đe dọa là sẽ rút khỏi UNCLOS.
Tàu sân bay Mỹ đến Biển Đông để “làm chỗ dựa cho Philipines” hay là để “làm mồi” cho Trung Quốc rút khỏi UNCLOS?
Việc Trung Quốc rút khỏi UNCLOS lợi, hại với Trung Quốc như thế nào là việc tính toán của Bắc Kinh. Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm là tình thế Biển Đông khi Trung Quốc rút khỏi UNCLOS.
Rút khỏi UNCLOS, Trung Quốc sẽ như Mỹ, không thuộc điều chỉnh của UNCLOS, lúc đó, Trung Quốc liệu có hành xử như Mỹ hay không?
Thực tế cho thấy, Mỹ không có tranh chấp vùng biển, đảo với ai và do đó chưa có quốc gia nào kiện Mỹ vi phạm UNCLOS. Không những thế, “Lập trường của Mỹ rất rõ ràng, rất đúng với luật biển. Mỹ muốn sự tự do hàng hải, hàng không, mang tính lịch sử truyền thống phải được tôn trọng” (Tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ tại Đối thoại chiến lược và kinh tế Trung - Mỹ ngày 7/6/2016).
Trong khi đó, Trung Quốc đang có tranh chấp trên biển với Nhật Bản, Việt Nam…ở Tây TBD thì liệu có biện pháp nào để giải quyết tranh chấp bằng hòa bình nếu như không có cơ sở pháp lý chung (UNCLOS) để xử lý?
Trong một cuộc tranh chấp mà không có luật lệ thì “ai mạnh nấy được” là cách thức, biện pháp giải quyết duy nhất buộc kẻ yếu chỉ có 2 sự lựa chọn hoặc là chiến tranh hoặc là đầu hàng. Vì vậy, rút khỏi UNCLOS là nguy cơ Trung Quốc sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để giải quyết tranh chấp.
Có thể nói, đây mới là sự nguy hiểm nhất, nguy cơ đe dọa đến an ninh chủ quyền của các quốc gia trong khu vực nhất, trong tình thế Trung Quốc tuyên bố rút khỏi UNCLOS.
Rút khỏi UNCLOS ngay sau phán quyết có nghĩa Trung Quốc tuyên bố chính thức công khai rằng, sẽ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp quân sự mà  bước đi đầu tiên rất dễ đoán là tuyên bố ADIZ trên Biển Đông.
Đến đây, chúng ta có thể hiểu rằng, khi có sự hung hăng, bất chấp, sẵn sàng dùng biện pháp quân sự của Trung Quốc thì các quốc gia trong khu vực, đặc biệt những quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông sẽ làm gì, đầu hàng hay đoàn kết liên minh với nhau, với Mỹ…?
Mỹ đã xoay trục sang Châu Á-Thái Bình Dương mà Biển Đông được coi như là một khu vực trọng điểm quyết chiến chiến lược cả về địa chính trị lẫn địa quân sự với Trung Quốc.
Càng hung hăng, bất chấp, Trung Quốc càng cô độc, càng dễ bị Mỹ đưa vào tròng.

May thay, Trung Quốc chưa đủ khả năng và thừa khôn ngoan để không mạo hiểm thách thức tất cả như vậy.