Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

NÊN NHỚ RẰNG, HÃY CÒN NỢ NGƯỜI MỘT LỜI XIN LỖI!


Những ngày này, cả nước Việt Nam chìm trong nỗi tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Qua tình cảm của người dân dành cho Đại tướng mới thấy một điều rằng nhân dân công tâm lắm.
Nhân dân biết hết, ai tốt, ai xấu , ai bị trù dập, ai tham nhũng, ai kèn cựa ngậm máu phun người…dân biết hết và quân đội càng biết rõ hơn.
Tất cả những tình cảm dành cho Đại tướng mà có thể nói là người dân đã dồn nén trong nhiều năm nay, nay mới có dịp bung ra. Và như vậy mới thấy rằng, những ai vì dân thì sẽ thuộc về nhân dân.
Lịch sử công bằng lắm.
Phải mất 22 năm sau khi Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, Lê Thánh Tông mới giải oan cho ông. Đã mấy trăm thế kỷ rồi mà mỗi lần đọc lời giải oan “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” vẫn khiến lòng chua xót, con tim như nhói đau, mắt như nhòa lệ.
Điếu văn của BCHTW Đảng CS Việt Nam đã đánh giá đúng công lao, đánh giá đúng nhân cách của Đại tướng cũng khiễn đồng bào cả nước nghẹn ngào, nhòa lệ, nhưng hình như chưa đủ.
Bởi vì nếu đã như vậy thì thực tế hoạt động chính trị của Đại tướng tại sao lại không hợp logic một tẹo nào, đúng không?
Bởi vì, nếu đã như vậy thì tại sao lại thiếu một lời xin lỗi, đúng không?
Quân đội nhân dân Việt Nam không có lỗi với người “Anh cả” của mình, Nhân dân Việt Nam chỉ mang ơn ông mà cũng không có lỗi với vị Đại tướng của mình. Bởi lẽ, giá như, quân đội, nhân dân Việt Nam, có quyền được lựa chọn Đại tướng cho mình, “Anh cả” cho mình.
Vậy ai là người có lỗi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì hãy xin lỗi Người trước khi quá muộn. Đừng để thế hệ sau này phải minh oan cho ông thì…không còn gì để nói.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

GÓC NHÌN CỦA LÍNH: 2 ĐIỀU VỀ TƯỚNG GIÁP.


Điều thứ nhất: Tướng Giáp luôn luôn đúng.
Lịch sử đất nước trong 31 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã ghi nhận và chứng minh.
- Tấn công Đông Khê thay vì Cao Bằng.
- Thay đổi cách đánh ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đánh chắc tiến chắc, chứ không dùng chiến thuật “biển người”.
- Mậu thân 1968 thắng lợi lớn nếu như sau tấn công đợt 1 thì rút quân ra khỏi thành thị về nông thôn tổ chức phòng thủ.
- Chiến dịch Quảng Trị năm 1972. Nếu nghe tướng Giáp thì không bao giờ quân ta rơi vào phòng ngự bị động gây ra tổn thất lớn. Đã thế còn có tư tưởng sai lầm về tiến công cách mạng, cứ cho rằng cách mạng là tiến công chứ không phòng ngự… Và khi tướng Giáp kiên quyết ra lệnh rút lui khỏi thành cổ Quảng Trị mới dừng lại con số “81 ngày đêm”.
- Mưu kế tuyệt vời. Kéo căng, gìm địch 2 đầu để điểm huyệt Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên.
- Buộc tướng Lê Trọng Tấn, một vị tướng đánh trận giỏi nhất Việt Nam, người được mệnh danh là “Ducốp Việt Nam” phải đánh giải phóng Đà Nẵng trong 3 ngày. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi nếu như hơn 10 vạn quân Ngụy ở Đà Nẵng chỉ cần ta chậm 1 ngày là ùn ùn kéo vào quanh Sài Gòn tử thủ thì sẽ như thế nào?
- Chỉ thị trực tiếp cho Mai Năng, Lữ trưởng 126 và quân khu 5 bằng mọi cách phải giải phóng Trường Sa.
- Tấn công giải phóng Căm Pu Chia khỏi bọn diệt chủng. Nếu nghe theo Tướng Giáp cắt đứt biên giới Thái Lan-Campuchia rồi tấn công diệt gọn thay vì đánh vỗ mặt để chúng chạy hết sang Thái Lan khiến chúng ta phải dây dưa với chúng tới 10 năm mà không dứt điểm gọn được, hao người tốn của.
Chính vì thế toàn quân, toàn dân trước sau như một đều đặt trọn lòng tin vào người chỉ huy tài giỏi của mình, yêu quý, kính trọng ông là thế.
Điều thứ hai: Nếu ai đó còn thăn văn chuyện này chuyện kia thì hãy coi điều thứ nhất.
Vẫn biết trong suốt 31 năm chiến tranh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng tư lệnh, nhưng trong chống Pháp, Bác Hồ trao cho tướng Giáp “tướng quân tại ngoại quyết trước báo sau”. Còn trong chống Mỹ thì không phải tướng Giáp quyết được. Ông phải thông qua Bộ CT, có khi chỉ một phiếu và không ít kẻ muốn thể hiện mình là tài giỏi, kèn cựa, đố kỵ, với tướng Giáp. Có lẽ tướng Giáp không buồn vì điều này nhưng nhìn máu xương người lính của mình đổ ra vì sai lầm chiến thuật, chiến lược mới khiến ông đau đớn rất nhiều.
Là một người lính của Đại tướng chỉ trong 2 năm thôi từ năm 1977 nhưng tôi không khỏi bàng hoàng khi hay tin Người đã đi theo Bác Hồ.
Non sông Việt Nam, dân tộc Việt Nam biết chờ đợi đến bao giờ nếu như lời nói của Giáo sư đáng kính Trần Đại Nghĩa là đúng: “Trên lĩnh vực quân sự và quân chính, phải vài thế kỷ nữa mới xuất hiện một Võ Nguyên Giáp thứ hai”.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

ĐIỀU GÌ XẢY RA KHI CAM RANH VÀ SUBIC "KẾT NỐI"?

GÓC NHÌN CỦA LÍNH: CAM RANH-SUBIC SẼ LÀ "EO BIỂN"
Tất nhiên, trong thời điểm hiện nay, đây chỉ là ý tưởng thuộc tính “khoa học viễn tưởng”, nhưng…chắc chắn là không điên rồ chút nào.
Khoảng cách Cam ranh-Subic tương đương từ đảo Hải Nam đến quần đảo Trường Sa chừng 1500 km. Nếu Cam Ranh và Subic “kết nối” thì, với vũ khí công nghệ cao như hiện nay, với vị trí đắc địa của Cam Ranh và Subic thì thứ nhất, không có một phương tiện nổi nào của Trung Quốc qua đây mà lọt khỏi tầm mắt của nó và thứ hai là các phương tiện nổi đó nằm trong tầm hỏa lực của nhiều loại vũ khí, đặc biệt là không quân.
Trung Quốc, trước mắt đang ngại với eo biển Malacca vì khả năng chưa thể khống chế được nên còn nhẹ tay, nhẹ miệng với Indonesia, Malaisia và Singapo, nhưng những viên tướng hiếu chiến lại rất coi thường Việt Nam và Philipines, bất chấp lợi hại, luôn mồm đe dọa “dạy cho bài học”…bất cứ lúc nào. Rất may với Trung Quốc, đó chỉ là những “viên tướng học giả”.
Thế giới mới chỉ biết đến eo biển Malacca do thiên nhiên tạo ra giữa Malaisia, Indonesia và Singapo, nhưng khi Cam Ranh và Subic “kết nối” thì cũng tạo nên một “eo biển” lợi hại không kém. Khi đó, tấn công đánh chiếm quần đảo Trường Sa là phi thực tế với hạm đội Nam Hải của PLAN. Trung Quốc đã lường trước được điều này hay không thì không biết, nhưng nếu có thì điều đó chẳng phải là điên rồ. Đến tấn công, đánh chiếm Trường Sa, trước hết Trung Quốc phải vượt qua được “eo biển” này.
ngocthong19.5@gmail.com
KẾT NỐI NGHĨA LÀ THẾ NÀO? YẾU TỐ KHÁCH QUAN NÀO BẢO ĐẢM CHO SỰ KẾT NỐI ĐÓ HOÀN HẢO? CỤC DIỆN ĐỊA CHÍNH TRỊ LÚC ĐÓ SẼ RA SAO?...GÓC NHÌN CỦA LÍNH SẼ "THÁY GÌ NÓI VẬY" TRONG DỊP KHÁC.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

BẢO VỆ TRƯỜNG SA TỪ "TẦM NHÌN XA" CỦA MỸ



Đối với Việt Nam, lực lượng Hải quân phải bảo vệ chủ quyền lãnh hải và quyền chủ quyền trong khu vực đặc quyền kinh tế, thềm lục địa rộng 200 hải lý, lúc này, không phải là quá sức, đó chỉ là nhiệm vụ của một lực lượng Hải quân ven bờ.
Nhưng, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, quần đảo cách xa đất liền từ 400 đến 600 km là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi chỉ ý chí, quyết tâm thôi chưa đủ mà còn phải trí tuệ.
Hải quân ven bờ (khả năng tác chiến chỉ ven bờ) xây dựng và phát triển trở thành Hải quân đại dương (khả năng tác chiến bất cứ đâu trên đại dương) không phải ngày một ngày hai mà phải trải qua nhiều thập kỷ, với khoa học công nghệ thôi chưa đủ mà phải có kinh nghiệm và truyền thống…
Trung Quốc, một quốc gia đang trỗi dậy với những tham vọng lớn về đại dương cũng đang vật lộn với vô vàn khó khăn để trở thành Hải quân đại dương. Điều đó có nghĩa không phải bất cứ đâu trên đại dương, Hải quân Trung Quốc muốn là được, không gian địa lý ngăn cản họ. Một tướng hải quân Mỹ từng nói rằng, “ngoài căn cứ 500 km, hải quân Trung Quốc không biết làm gì”, không phải là không có lý.
Có thể nhiều người sẽ bất ngờ khi biết Trung Quốc có hàng ngàn máy bay chiến đấu đủ các thế hệ trong lực lượng không quân. Lực lượng này dù chất lượng thế nào thì vẫn là một sự răn đe lớn cho những quốc gia nào dám tác chiến trong vùng trời lục địa Trung Quốc.
Tuy nhiên, đây có phải là điều quan tâm lớn cho Đài Loan hay Trường Sa hay không? Đương nhiên là không, bởi, không phải máy bay nào trong số đó cũng tác chiến được trên vùng trời Đài Loan hay Trường Sa hay đưa nó lên được tàu sân bay (nếu có). Tăng tầm bay bằng một cuộc cách mạng về động cơ, nhiên liệu của máy bay thì không thể, bởi vậy, đóng tàu sân bay và tiếp dầu trên không là biện pháp kỹ thuật tối ưu của không quân Trung Quốc hiện nay nếu như muốn tác chiến tầm xa.
Lợi dụng địa lợi, khai thác triệt để tính năng kỹ thuật của vũ khí để chiếm ưu thế tác chiến.
Làm chủ vùng biển, trước hết là làm chủ vùng trời trên vùng biển đó của lực lượng không quân hải quân, đó là chân lý của các cuộc xung đột hay chiến tranh trên biển hiện đại.
Có thể nói, đang có một cuộc chạy đua với thời gian, âm thầm, quyết liệt, đầy trí não của Việt Nam và Trung Quốc để sẵn sàng làm chủ vùng trời khu vực quần đảo Trường Sa.
Nếu như Trung Quốc đang tăng cường nguồn lực để đóng tàu sân bay, chế tạo máy bay tiêm kích hạm, máy bay tiếp dầu trên không…để khắc phục bất lợi về địa lý thì Việt Nam, với thuận lợi về khoảng cách địa lý, Việt Nam tất nhiên đi theo hướng khác.
Thứ nhất, đó là khai thác triệt để tính năng kỹ thuật hiện có của máy bay, tăng cường số lượng, điều chỉnh phù hợp giữa tính đa nhiệm và chuyên sâu…nhằm để chiếm ưu thế tác chiến tuyệt đối trên vùng trời Trường Sa nếu xung đột xảy ra.
Chẳng cần phải giấu diếm, với tính năng kỹ thuật hiện có, ngay cả SU-27 của trung đoàn 940 vẫn thừa khả năng tác chiến ở Trường Sa thì không phải nghi ngờ gì về khả năng của SU-30MK2. Như vậy, kỹ thuật (công nghệ) của vũ khí hiện có thì khoảng cách địa lý của không quân hải quân Việt Nam không thành vấn đề. Vấn đề còn lại là số lượng và chiến thuật như thế nào để bảo đảm tác chiến chắc thắng.
Việc tăng cường thêm 12 chiếc SU-30MK2 có nằm trong tính toán đó của Việt Nam hay không thì chỉ có Bộ tham mưu Hải quân biết rõ, nhưng dư luân phần nào thấy được ý chí quyết tâm cao độ nhưng đầy trí não để bảo vệ Trường Sa của Việt Nam.
Nguyên với 36 chiếc máy bay Su-30MK2 hiện đại không kém gì không quân Trung Quốc không cần tiếp dầu vẫn thừa thời gian vần vũ trên vùng trời Trường Sa, chưa tính các loại SU khác…chắc chắn khiến đối phương phải suy nghĩ cẩn trọng. Và, không biết trong số máy bay đó có bao nhiêu chiếc chuyên về không đối hạm, chuyên không đối không, chuyên về áp chế điện tử…thì suy nghĩ phải “2 lần”.
Thứ hai là khai thác triệt để địa lợi để chiếm ưu thế về chiến thuật.
Lộ hướng tấn công là một điều không thể chấp nhận trong binh pháp. Lộ hướng tấn công sẽ gây cho ta 2 tình huống cực kỳ nguy hiểm. Một là đối phương chủ động bố trí lực lượng, sử dụng lực lượng có lợi chiếm ưu thế để đối kháng. Hai là bị đối phương ngăn chặn bằng phục kích, tập kích và bố trí những hệ thống vật cản (mìn, thủy lôi…)
Lâu nay, không ít các vị tướng hiếu chiến, các học giả quá khích của Trung Quốc luôn đe dọa nào là “dạy cho Việt Nam một bài học”, nào là “muốn thì cứ đánh chiếm” (Trường Sa)…và nếu như là thật, lúc đó, tấn công Trường Sa thì hướng tấn công của lực lượng không quân Trung Quốc luôn bị lộ vì hướng đó là hướng bắt buộc. (Chúng ta chưa đề cập đến hướng trên biển)
Lộ hướng tấn công là sự bất lợi lớn về chiến thuật. Nếu như trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” do hướng tấn công của B-52 Mỹ là bắt buộc nên đã lộ rõ tử huyệt là “điểm chuyển hướng” thì giờ đây, Trung đoàn radar 290 trên đỉnh Sơn Trà-Đà Nẵng, không cần phải vạch nhiễu tìm thù cũng dễ dàng dẫn đường cho không quân Việt Nam xuất kích đến đúng lúc, đúng tử huyệt (là “điểm tiếp dầu trên không” chẳng hạn) trên hướng tấn công của không quân Trung Quốc (nên hiểu đây là lối đánh du kích của không quân với hình thức phục kích), hoặc vân vân.
Làm được điều này có nghĩa là Việt Nam hạn chế được số lượng máy bay Trung Quốc tham gia tác chiến và hạn chế được thời gian tác chiến của những máy bay này trên khu vực không phận Trường Sa

Trạm Radar trên đỉnh Sơn Trà, chứng tích của người Mỹ đã dùng để khống chế và theo dõi toàn bộ khu vực rộng lớn từ đảo Guam (Mỹ) phủ qua đảo Hải Nam (Trung Quốc), nhưng với Việt Nam, cùng với vị trí Cam Ranh, chỉ cần quản lý khu vực Trường Sa đã là quá đủ.
Như vậy, với lực lượng tàu mặt nước, tàu ngầm của Việt Nam luôn kém ưu thế và khả năng tác chiến tầm xa nhiều lần so với Trung Quốc khi tác chiến tại khu vực Trường Sa thì trước mắt, sự hỗ trợ của không quân là rất lớn. Sự hỗ trợ này tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng tàu mặt nước, tàu ngầm có nhiều phương án tác chiến khả thi để bảo vệ vững chắc Trường Sa.
Hơn lúc nào hết, huyện đảo Trường Sa, huyện đảo tiền tiêu của Tổ quốc đã và đang hiên ngang với một niềm tin tất thắng. Cả dân tộc, cả đất nước, đang tất cả cho Trường Sa, vì Trường Sa.
ngocthong19.5@gmail.com

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

SỚM MUỘN GÌ TRUNG QUỐC CŨNG PHẢI KÝ COC!


Đương nhiên, Bắc Kinh chẳng mấy vui vẻ, thậm chí tờ Nhân dân nhật báo hôm 16/8 đã khẳng định dù Trung Quốc có đồng ý COC, hòa bình chưa chắc đã có ở Biển Đông nếu không theo luật chơi của TQ…
Thực ra đây chỉ là biểu hiện một thái độ cay cú, hậm hực của một tờ báo hay thậm chí của giới quá khích, trước một chiến lược lớn đầy tham vọng của mình không thành công mà không phải là cái tầm, tư cách, của một quốc gia trong xã hội hiện đại. Chẳng ai, chẳng quốc gia nào ép Trung Quốc ký hay không ký COC mà chính căn cứ từ yếu tố chủ quan, khách quan tình hình khu vực, Trung Quốc biết phải làm gì để “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Khi đã ký COC là phải thực hiện, còn thực hiện nghiêm túc hay không thực hiện là quyền của Trung Quốc, nhưng nếu thế, ký mà không thèm thực hiện, hệ lụy, hậu quả của thái độ, hành động đó sẽ khôn lường.
Dù sao, sớm muộn gì Trung Quốc cũng sẽ đồng ý COC mà các nước ASEAN đưa ra bởi có 2 nguyên nhân cơ bản buộc Trung Quốc phải thay đổi phương pháp thực hiện chiến lược.
Tình thế Biển Đông đã thay đổi.
Với Biển Đông (hay biển Nam Trung Hoa hay Biển Đông Nam Á), nếu như có đủ khả năng thì Trung Quốc có thừa ngạo mạn để vẽ cái gọi là “Bản đồ đường lưỡi bò” đến tận eo biển Malacca.
Eo biển Malacca và Biển Đông có thể nói là con đường “sinh mạng” của không những Trung Quốc mà còn là của Nhật Bản. Mỹ cũng tuyên bố có “lợi ích quốc gia” ở đây. Do vậy, bảo vệ an ninh hàng hải, an toàn cho hàng hải trên Biển Đông và eo biển Malacca là mong muốn không của riêng ai. Tuy nhiên, bất cứ quốc gia nào, tùy theo khả năng đều cũng muốn khống chế tuyến hàng hải này khi cần thiết. Đây chính là “cái núng đồng tiền của nữ thần chiến tranh” hay là mầm móng đầy quyến rũ nhưng vô cùng nguy hiểm.
Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực ĐNA, Biển Đông với họ vừa là chủ quyền bao đời nay sinh sống tồn tại, vừa có quyền chủ quyền theo UNCLOS…
Như vậy có thể nói, Biển Đông không phải của riêng ai, cho nên, ý tưởng chiếm trọn một mình là sẽ gặp vô vàn khó khăn, sẽ bị nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới chống lại. Tách Mỹ, Nhật Bản, Nga…ra khỏi Biển Đông, cũng như tách Trung Quốc ra khỏi eo biển Hormuz vì không liên quan là không hợp logic trong thời buổi toàn cầu hóa.
Chiếm trọn Biển Đông bằng cách vẽ trên bản đồ thì chẳng có ý nghĩa gì, chỉ khi nào Trung Quốc áp đặt được luật của Trung Quốc trên Biển Đông mà bất cứ quốc gia nào cũng phải tuân thủ, mới coi như chiếm trọn được Biển Đông. Nhưng, muốn như vậy thì phải bằng sức mạnh, mà trong tình hình hiện nay, đối đầu với một ASEAN đoàn kết đã là khó khăn, không thể ngày một ngày hai làm chủ được tình hình, trong khi nền kinh tế lại quá nhạy cảm với 29/39 tuyến đường của Trung Quốc trên Biển Đông, huống chi gồm cả Mỹ, Nhật Bản sẽ can thiệp thì Trung Quốc chưa thể. Sẽ là duy ý chí nếu Trung Quốc quyết tâm thực hiện bằng được chiến lược này.
Cục diện địa chính trị ĐNA đã thay đổi.
Ở đây, Myanmar là điểm nóng mà chúng ta cần quan tâm nhất trong chiến lược của Trung Quốc.
Trong thời kỳ bị cấm vận, Myanmar đã trở thành cái sân sau hoàn toàn của Trung Quốc như thuộc địa. Với vị trí địa lý, tài nguyên năng lượng, Myanmar có một địa chiến lược cực kỳ quan trọng với Trung Quốc mà biểu hiện rõ nhất là 2 đường ống dẫn dầu và khí đốt được khởi công từ năm 2004. Nó gồm 2 đường song song, một cho dẫn dầu từ Trung Đông với công suất 22 triệu tấn và một cho dẫn khí đốt sản xuất tại chỗ với công suất 12 tỷ m3. Cả 2 đường ống dẫn này có chiều dài 739 km, bắt đầu từ các mỏ khí tự nhiên ở bang Rakhine chạy qua Vân Nam và Quảng Tây là điểm cuối cùng.

Tương lai u ám của đường ống chiến lược của Trung Quốc xây dựng tại Myanmar gây khó khăn cho chiến lược biến Biển Đông thành “ao nhà”.

Ngày 28/7/2013 dòng khí tự nhiên bắt đầu vận chuyển qua đường ống nhưng thấp hơn nhiều so với dự kiến. Do bạo lực leo thang dọc theo đường ranh giới giữa bang Shan và Kachin nơi có đường ống chạy qua Vân Nam đến Quảng Tây có khả năng bị trì hoãn thay vì hoàn thành vào tháng 9/2013, trong khi dầu chưa thể vận chuyển cho tới tháng 6/2014 (New York 7/8).
Việc xây dựng đường ống dẫn năng lượng trên đất liền Trung Quốc-Myanmar giúp cho Trung Quốc an toàn hơn thay cho tuyến vận chuyển đường biển qua eo biển Malacca và Biển Đông khi chiến sự nổ ra.
Hơn ai hết Trung Quốc đã biết rõ ngón đòn này khi đã cho Nhật Bản nếm sự lợi hại bằng cách cắt nguồn cung đất hiếm.
Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng…phòng tình huống xấu nhất xảy ra cho kinh tế, an ninh quốc gia là sách lược không chỉ của Trung Quốc áp dụng. Chính vì thế mà 2 đường ống Trung Quốc-Myanmar có tầm chiến lược rất quan trọng với Trung Quốc, đến mức khiến người ta cho rằng, hơn 20 năm qua, Trung Quốc đã thực dân hóa dần dần khu vực mà có 2 đường ống này đi qua.
Nhưng, do chủ quan, đánh giá thấp trào lưu dân tộc chủ nghĩa trong ban lãnh đạo quân sự ở Myanmar mà Trung Quốc đã nhận được những bài học đầu tiên về hành động thực dân hóa của mình. Đó là tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar.
Từ khi Myanmar tiến hành chuyển đổi chính trị, lực lượng đối lập đã phát triển mạnh mẽ. Sự phản đối mạnh mẽ với dự án đập thủy điện Myitsone buộc Myanmar dừng dự án “theo ý nguyện của người dân” khiến Trung Quốc nổi giận. Lo ngại với 2 đường ống chiến lược của mình là có cơ sở khi những nhà hoạt động xã hội lưu vong có mối quan hệ với Đảng phát triển dân tộc vùng Rakhine nơi đường ống dẫn dầu khí bắt đầu đã ra thông báo chỉ trích dự án vào ngày dòng khí được bơm vào đường ống đầu tiên, ngày 28/7.
Đảng này cho rằng, khu vực này không nhận được lợi ích gì từ đường ống này.
Đây là miếng đất màu mỡ cho Mỹ “gieo giống” dân chủ để có thể khiến cho ít nhất đường ống phải “đàm phán lại”.
Khó khăn, mất an toàn cho 2 đường ống chiến lược của Trung Quốc chưa dừng ở đó. Trước năm 2010, do muốn bảo đảm an ninh cho đường ống, Trung Quốc đã hậu thuẫn cho các tổ chức chống nhà nước Myanmar như Kachin, Shan, Wa. Hiện nay, Myanmar đang quyết tâm củng cố quyền kiểm soát với các nhóm thiểu số này để khẳng định chủ quyền của mình ở khu vực. Myanmar đã dùng đường ống dẫn dầu, khí này để làm đòn bẩy nhằm hạn chế sự can thiệp của Trung Quốc (đã có lúc xung đột xảy ra khiến Trung Quốc phải điều quân đến biên giới). Lúc này, Trung Quốc dù theo bên nào thì hậu quả đường ống chiến lược của mình cũng đều bị lãnh đủ.
Đài tiếng nói nước Nga có một câu bình luận khá hay về đường ống Trung Quốc-Myanmar: “Trung Quốc vòng tránh bãi đá ngầm Mỹ ở eo biển Malacca” nhưng chưa đủ. Phải là “tránh vỏ dưa thì gặp vỏ dừa” mới đủ.
Đường ống chiến lược quan trọng của Trung Quốc chạy qua một môi trường an ninh bất ổn không theo luật lệ nào, khó dự đoán, khiến Trung Quốc sẽ vào thế bị động đối phó. Trong khi đó, hoạt động thương mại, vận chuyển năng lượng trên tuyến đường hàng hải qua eo biển Malacca và Biển Đông của Trung Quốc chưa quốc gia nào cản trở, phong tỏa nếu như Trung Quốc không buộc họ phải làm thế.
Myanmar, ván cá cược chiến lược lớn của Trung Quốc đã cho kết quả. Liệu Trung Quốc có đủ tự tin, bản lĩnh để cá cược “con đường sinh mạng” của mình?

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

THỔ NHĨ KỲ - BÀI HỌC CHO TRUNG QUÓC?


Thổ Nhĩ Kỳ có đường bờ biển với Địa Trung Hải dài cũng xấp xỉ như của Trung Quốc với Biển Đông.
Vào thế kỷ XVI, Thổ Nhĩ Kỳ của thời Đế chế Ốttôman hùng mạnh họ tuyên bố chủ quyền toàn bộ Địa Trung Hải cho đến eo biển Gibraltar. Theo đó, các nước quanh Địa Trung Hải như Croatia, Italia, Pháp, Tây Ban Nha, Maroc, Angieri, Tuynidi…chỉ cần “bước chân xuống biển” là phải được phép của Hải quân Thổ.
Tuyên bố của Trung Quốc theo kiểu Thổ.
Ngày nay, trong thế kỷ XXI Trung Quốc trỗi dậy, họ tuyên bố chủ quyền gần trọn Biển Đông đến sát eo biển Malacca như bản đồ “đường lưỡi bò” họ đã công bố . Tại sao Trung Quốc lại ngang ngược bất chấp đến vậy?
Thứ nhất vì địa chiến lược Biển Đông.
Về địa kinh tế, Biển Đông chứa một nguồn năng lượng, tài nguyên khổng lồ chưa khai thác đảm bảo cho tương lai phát triển lâu dài của nền kinh tế Trung Quốc
Về địa quân sự, chiếm được Biển Đông, Trung Quốc khống chế toàn bộ tuyến đường hàng hải từ TBD qua ÂĐD trong đó có eo biển Malacca. Toàn bộ lực lượng Hải quân của Philipines, Việt Nam, Malaisia, Indonesia…trở thành lực lượng “thủy quân”, ra biển là phải được phép Trung Quốc. Biển Đông là nơi dể cho tàu ngầm Trung Quốc hoạt động mà không bị Mỹ, Nhật Bản theo dõi chặt chẽ, đẩy hoạt động của Hải quân Mỹ ra xa khu vực.
Về địa chính trị, đây là một đòn giáng chí mạng vào Mỹ (nếu như chiếm trọn Biển Đông), đẩy Mỹ ra khỏi khu vực ĐNA, vai trò của Mỹ được thay thế bằng Trung Quốc, các quốc gia trong khu vực sẽ đi theo quỹ đạo của Trung Quốc, chiến lược châu Á-TBD của Mỹ sẽ thất bại và ý tưởng “chia nửa Thái Bình Dương với Mỹ sẽ thành hiện thực. Khi đó Đài Loan như quả đã chín mùi tự rụng vào bị Đại lục, còn Nhật Bản sẽ như thế nào khi các tuyến đường hàng hải trên Biển Đông bị Trung Quốc phong tỏa, khống chế? Nga sẽ như thế nào nếu như các hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam bị Trung Quốc coi như bất hợp pháp vì trong chủ quyền của họ? và Mỹ, liệu có nhường một khu vực có địa chiến lược cực kỳ quan trọng như vậy cho Trung Quốc?
Thứ hai là Trung Quốc có tư tưởng cậy mạnh.
Khi yếu thì dù ham muốn mấy, Trung Quốc phải “giấu mình chờ thời” thôi, nhưng khi mạnh lên thì Trung Quốc bất chấp dù Biển Đông là của hơn 300 triệu cư dân của nhiều quốc gia nhỏ quanh đó làm ăn sinh sống lâu đời, dù Trung Quốc đã ký vào UNCLOS…vẫn đòi chiếm trọn.
Cậy mạnh là bản chất của bá quyền, bành trướng. Biểu hiện của cậy mạnh là hung hăng, ngang ngược bất chấp, hay đe dọa sử dụng vũ lực.
Từ năm 2010 trỏ lại đây, khi Trung Quốc cho rằng mình đã mạnh thì họ đã đang gây hấn với hầu hết các quốc gia trên Biển Đông với tuyên bố biến Biển Đông thành “ao nhà” hết sức ngang ngược, thách thức tất cả theo kiểu hoặc nó là của Trung Quốc hoặc là phải đánh nhau với Trung Quốc. Trên biển Hoa Đông Trung Quốc đang đe dọa Nhật Bản, đẩy tranh chấp quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư lên cao có lúc thế giới phải thót tim.
Những điều Trung Quốc chưa lường hết
Không gian địa chính trị khu vực châu Á-TBD thay đổi nhanh chóng gây bất lợi cho Trung Quốc.
Điều khiến các quốc gia khu vực cảnh giác, lo ngại là sự trỗi dậy của Trung Quốc kéo theo hàng năm chi phí cho quốc phòng tăng nhịp độ 2 con số.
Sự tăng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc vượt ra ngoài phạm vi phòng thủ cùng với những hành động, tuyên bố chủ quyền hung hăng, bất chấp khiến cho các quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc buộc cũng phải tăng chi phí quân sự để bảo vệ chủ quyền của mình.
Việc tăng cường lực lượng dồn dập của Philipines, việc chuẩn bị lực lượng có trọng tâm, trọng điểm của Việt Nam, Indonesia…để sẵn sàng bảo vệ chủ quyền, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc đã tạo ra một kẻ thù hùng mạnh mà không thể khống chế, đánh bại được nó…khiến cho Trung Quốc phải lo lắng, suy nghĩ cẩn trọng.
Năm 2012, Mỹ đã đánh giá lại địa chính trị thế giới bằng “chiến lược châu Á-TBD”. Và, trong bối cảnh đó, khu vực châu Á-TBD, trừ Trung Quốc, phản đối chiến lược của Mỹ, khi bổng dưng dồn 60% lực lượng Hải quân vào khu vực đang nóng lên vì tranh chấp chủ quyền này mới đáng ngạc nhiên.
Một cuộc chiến địa chính trị tại châu Á-TBD đã diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc và không khó để nhận thấy “ván cờ” địa chính trị này Trung Quốc đã bị Mỹ “chiếu rút”. Mỹ rút chiếu, Trung Quốc mất Myanmar, Mỹ rút chiếu, Philipines trước “cửa nhà” Trung Quốc đầy quân và tàu chiến Mỹ và chưa biết chừng, Mỹ rút chiếu thì Bắc Triều Tiên không còn là vùng đệm của Trung Quốc nữa…
Ngay một tướng võ biền của Mỹ cũng nhận ra, rằng “Trung Quốc đã đẩy bạn bè, láng giềng của mình vể phía Mỹ” thì tại sao những nhà chính trị đầy mưu lược Trung Quốc không nhận ra? Tại sao Trung Quốc không nhận ra rằng với địa chiến lược Biển Đông như trên thì “đa phương hóa Biển Đông” là điều tất yếu sẽ xảy ra, ít nhất Nhật Bản và Mỹ sẽ không ngồi nhìn dù cho các quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc buông xuôi?
Thời nào cũng tồn tại “cá lớn nuốt cá bé”, cậy mạnh, nhưng Trung Quốc đã mạnh chưa mà đã cậy vào mạnh hòng chia nửa TBD?
Trong 5 nước là UV thường trực HĐBA thì có nước nào đang phải đi mua vũ khí như Trung Quốc? Không có, họ chỉ bán. Nhật Bản tuy không là UVTTHĐBA nhưng cũng không thèm mua vũ khí của ai (họ chỉ buộc và hợp tác sản xuất với Mỹ) và chỉ cần cho họ xuất khẩu vũ khí thì chỉ có Nga, Mỹ may ra mới cạnh tranh nổi.
Trung Quốc cậy giàu có, tự hào là một trung tâm kinh tế, có GDP thứ 2 thế giới vượt Nhật Bản ư? Ông Hứu Nhất Lực, bình luận viên hàng đầu của kênh chứng khoán, CCTV có một đánh giá thú vị: “Nền kinh tế thế giới chưa thoát khỏi sự ràng buộc vào đồng USD thì Trung Quốc vẫn tiếp tục ở vị thế… ”người làm thuê của Mỹ”. Trung Quốc dùng vàng bạc thật để tạo ra sản phẩm, mang đi xuất khẩu và đổi lại những “tờ giấy lộn” (USD) được in ấn tinh xảo của Mỹ…”. Vậy, một “người làm thuê nhiều tiền (USD)” liệu có truất quyền “ông chủ” được không?
Đến lúc này có lẽ Trung Quốc đã kiểm chứng được rất nhiều vấn đề và đã bớt “cao giọng”.
Cục diện địa chính trị châu Á-TBD
Xu hướng xung đột.
Nhìn tổng thể đó là sự đối đầu giữa Trung Quốc với Mỹ và đồng minh ở châu Á-TBD, trong đó 3 điểm nóng dễ dẫn đến xung đột tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản, Philipines và Việt Nam.
Bất cứ một cuộc xung đột quy mô nào, Trung Quốc, một quốc gia đang trỗi dậy, đang đấu tranh thoát khỏi sự bao vây, kiềm chế của Mỹ đều khiến Trung Quốc bị tổn thương, yếu hơn trước Mỹ và các đối thủ khác. Bất kỳ kết quả diễn tiến ra sao thì Mỹ vẫn thắng và Mỹ thì luôn được lợi.
Xu hướng hợp tác hòa bình.
Tuy có nhiều nhân tố xung đột nhưng các nhân tố hợp tác phát triển đan xen nhau. Nếu sự tranh chấp của Trung Quốc với các nước được giải quyết hòa bình trên cơ sở UNCLOS thì khu vực châu Á-TBD - trọng tâm địa chính trị toàn cầu sẽ hòa bình, ổn định, phồn vinh và ngược lại sẽ là khiến cho thế giới chiến tranh, rối ren nghèo đói…Đương nhiên hòa bình, trong bất kỳ tình huống nào cũng là ý tưởng hay và tốt đẹp.
Trở lại với tuyên bố của Thổ Nhĩ Kỳ đòi chủ quyền toàn bộ Địa Trung Hải trong thế kỷ XVI. Không cam chịu phải xin phép Hải quân Thổ khi “đặt chân xuống biển”, họ liên minh với nhau, giáng cho Hạm đội của Thổ ngạo mạn một thất bại đau đớn tại Lepante vào năm 1570.
Lịch sử không lặp lại, nhưng chân lý “Biển Trời không phải của riêng ai” thì không bao giờ thay đổi.
ngocthong19.5@gmail.com

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

PHÊ CHUẨN VÀ KHÔNG PHÊ CHUẨN UNCLOS, MỸ VÀ TRUNG QUỐC AI NGANG NGƯỢC, BẤT CHẤP?


Trong nội bộ Trung Quốc, một số nhà phân tích chính trị, đặc biệt là nhóm học giả tướng tá trong quân đội đặt câu hỏi tại sao Trung Quốc lại phê chuẩn UNCLOS? Và đang công kích chính phủ nước này suy nghĩ về vấn đề có nên tồn tại hay không cái gọi là “công ước kiềm chế lợi ích”?.
Nếu như các bậc lãnh đạo tiền bối của Trung Quốc mà có thể ‘đội mồ” lên được thì chắc chắn các nhà phân tích chính trị, các học giả, tướng tá trên (gọi chung là nhóm diều hâu) sẽ được “ban cho thuốc độc” vì cái tội đã ngu dốt, vô mưu, không biết thế, thời…lại còn hỗn láo, “phạm thượng khi quân”.
Tại sao Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS?
Chỉ có Việt Nam, bán đảo Triều Tiên và những người yêu nước chân chính của dân tộc Trung Hoa mới thấm thía nỗi đau của sự chia cắt đất nước.
Với Trung Quốc, Đài Loan là vấn đề nổi cộm và khi đã lớn mạnh, là cường quốc thì nỗi đau đó càng nhức nhối. Thu hồi Đài Loan không phải là không có trong ý tưởng và hành động của giới lãnh đạo Bắc Kinh từ khi lập nước.
Tuy nhiên trong 3 lần (thế giới gọi là 3 lần khủng hoảng eo biển Đài Loan) hành động của Trung Quốc bị Hải quân Mỹ, với sức mạnh vượt trội, răn đe, can thiệp đều phải xuống thang, từ bỏ ý định.
Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột nã pháo vào đảo Kim Môn tạo ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài loan lần thứ 2. Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ. Đồng thời, Hoa kỳ đã bí mật cung cấp cho Đài Loan 100 máy bay chiến đấu F86 Sabre trang bị tên lửa AIM-9 Sidewinder không đối không hiện đại nhằm đối đầu với các chiến đấu cơ Mig 15, Mig 17.
Trước tình hình cuộc chiến có thể leo thang gây bất lợi cho Đại Lục, ngày 4/9/1958, Bắc Kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ là 12 hải lý, trước hết là nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan, đồng thời, quan trọng hơn là khiến Hải quân Mỹ phải do dự khi vào khu vực bờ biển mà Trung Quốc đã tuyên bố lãnh hải.
Cuộc khủng hoảng lần thứ 3 từ 7/1995 đến 11/3/1996. Trung Quốc tiến hành tập trận quanh đảo Đài Loan và phóng tên lửa bay qua hòn đảo này. Lập tức Mỹ điều 2 nhóm tàu sân bay chiến đấu đi vào eo biển Đài Loan khiến Trung Quốc lùi bước, xuống thang để “tránh xung đột với Mỹ” và cũng trong năm đó, năm 1996, Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS.
Giới lãnh đạo Trung Quốc thời đó thừa biết tại sao Mỹ không phê chuẩn UNCLOS và rất muốn cũng như Mỹ bởi tư tưởng bành trướng, cậy mạnh vồn có của mình.
Nhưng, có thể nói việc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý và tiếp theo là phê chuẩn UNCLOS năm 1996 của Trung Quốc diến ra trong một tình thế khi khả năng của Trung Quốc không thể bằng quân sự, ngăn cản được sự tự tung tự tác của Hải quân Mỹ trên eo biển Đài Loan, khi vùng biển của Trung Quốc có nguy cơ mất an toàn nếu không phê chuẩn UNCLOS như Mỹ.
UNCLOS với Trung Quốc lúc đó như một chiếc phao cho người chưa biết bơi mà không có nó thì ai cũng hiểu sẽ ra sao.
Việc Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dùng nó làm vũ khí đấu tranh, hạn chế được sự “tự do hàng hải” của Mỹ hoặc ít nhất làm cho Mỹ do dự, tính toán khi muốn “tự do hàng hải” kiểu Mỹ trong vùng biển thuộc điều chỉnh của UNCLOS mà Trung Quốc đã phê chuẩn.
Chẳng hạn, ngày 08/03/2009, cách đảo Hải Nam 75 hải lý về phía Nam, 5 tàu Trung Quốc bao vây một tàu do thám không vũ trang của hải quân Mỹ, tiến tới cách tàu này 8 mét, cản đường tàu này và tìm cách phá hoại những thiết bị thuỷ âm mà tàu này đang kéo trên biển.
Mỹ cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật biển quốc tế. Trung Quốc cáo buộc ngược lại là chính Mỹ mới vi phạm luật quốc tế và UNCLOS trong vùng đặc quyền kinh tế của họ…Điều đó cho thấy UNCLOS vẫn đang có giá với Trung Quốc, ít nhất là cho đến năm 2009.
Vậy mà, nhóm diều hâu, được nuôi lớn, tồn tại nhờ vào sách lược “nín nhịn chờ thời” và chiếc phao UNCLOS, mới cảm thấy có một chút “cơ bắp”, nhưng chưa làm được trò trống gì cho dù là tạo ra một cuộc “khủng hoảng” đã dám phê phán các bậc lãnh đạo tiền bối khi phê chuẩn UNCLOS thì đúng là không biết thế thời, “khi quân phạm thượng”.
UNCLOS “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc?
Giá như UNCLOS đã “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc dù chỉ “một chút do dự” thôi, thì đó là điều may mắn cho các quốc gia khu vực ĐNA có chung biển với Trung Quốc.
UNCLOS với Trung Quốc không những nó đáp ứng được tình thế của Trung Quốc khi “chưa biết bơi” mà hiện tại, Trung Quốc dựa vào UNCLOS theo “kiểu Trung Quốc” để tạo ra lợi ích phi lý, phi pháp của mình: Bản đồ đường lưỡi bò phi lý, phi pháp.
Rõ ràng, bản đồ “đường lưỡi bò” lấy cách giải thích khoa học dựa theo UNCLOS là phi lý. Nhưng Trung Quốc dựa theo UNCLOS để cải biên theo các giải thích của Trung Quốc hay theo luật của Trung Quốc.
Trung Quốc cho rằng 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc (phi pháp) và do đó chúng có 3 vùng chủ quyền gồm nội thủy, lãnh hải 12 hải lý, vùng EEZ 200 hải lý (phi lý). Theo cách giải thích như vậy thì đó là một vùng biển rộng hơn 80% diện tích Biển Đông mà Trung Quốc đòi chiếm đoạt là vậy và định dạng đường lưỡi bò cũng từ đó mà ra.
Hiện nay, khi Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ, thách thức địa vị thống tri toàn cầu của Mỹ thì không có cái gì, điều gì “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc huống chi là cái thứ giấy UNCLOS. Nếu UNCLOS “kiềm chế” được lợi ích Trung Quốc thì làm gì có chuyện Trung Quốc đánh dấu điểm cực nam của bản đồ “đường lưỡi bò” chỉ cách Malaisia 80 km trong khi cách mình hàng ngàn km?
Philipines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về Biển Đông ư? Mỹ vẽ đường cho Trung Quốc nên rút khỏi UNCLOS để tránh vụ kiện rắc rối nhưng Trung Quốc có coi UNCLOS có ý nghĩa gì đâu mà kiện.
Rút khỏi UNCLOS là mắc mưu Mỹ, nghĩa là, ý đồ của Trung Quốc trên Biển Đông không còn chỗ nào được che đậy, nghĩa là bất cần, Trung Quốc sẵn sàng thách thức công khai đe dọa tất cả.
Vậy, Trung Quốc đã đủ độ liều lĩnh đấy chưa? Chưa đâu.
Chính vì lẽ đó, con đường Mỹ vẽ ra, Trung Quốc không dại, Trung Quốc có con đường riêng của mình.
Mỹ không phê chuẩn UNCLOS vì có nhiều điều hại đến quyền lợi của Mỹ tuy vẫn có nhiều điều lợi. Hơn nữa, Mỹ không phê chuẩn vì khi đã phê chuẩn thì phải tuân thủ. Chứng tỏ Mỹ rất tôn trọng luật và rất quân tử, hại nhiều hơn lợi thì không ký dù là đương kim cường quốc số1 thế giới, có thể dùng sức mạnh để bẻ luật.
Trung Quốc khác Mỹ, Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS nhưng không nhất thiết phải tuân thủ, vì, thấy có điều lợi để khai thác, còn khi có điều hại thì bất chấp, sẵn sàng giẫm dưới chân, coi UNCLOS chỉ là mớ giấy lộn (thực tế hành xử trong thời gian qua trên Biển Đông đã quá rõ). Chứng tỏ Trung Quốc “uyển chuyển” hơn Mỹ và đương nhiên ngang ngược hơn Mỹ trong cách đối xử với luật quốc tế nói chung và UNCLOS nói riêng.
Với Trung Quốc, sức mạnh là luật, đề ra luật và Mỹ cũng vậy thôi. Tuy nhiên luật và sức mạnh là thuộc ý muốn chủ quan của con người, con người làm ra luật và sức mạnh. Nhưng QUY LUẬT là khách quan, ngoài ý muốn của con người. Con người vận dụng phù hợp thì tồn tại, làm trái nó là bị hủy diệt.
Chiến tranh, bành trướng, mộng bá chủ thế giới…của những quốc gia dù hùng mạnh, hung hăng, phát xít đến mấy nhưng bất chấp quy luật là tiêu vong và đã từng tiêu vong từ trước tới nay.