Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2014

VŨ KHÍ ÂM THANH VÀ BIỂN NGƯỜI, AI THẮNG?

Vừa qua, chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc áp đặt cái gọi là “lệnh cấm tàu thuyền nước ngoài đánh bắt cá hay khảo sát” trong “khu hành chính Hải Nam mới trên biển” mà không được “sự cho phép” của giới hữu trách Trung Quốc. “Quy định” mới trên được thông qua vào cuối tháng 11 năm ngoái và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2014.
Chính quyền Mỹ cho rằng đây là “hành động khiêu khích và có thể gây nguy hiểm trên Biển Đông …”
Hành động khiêu khích? Không chính xác.
Thứ nhất đây là hành động để chứng tỏ Trung Quốc đã chính thức không còn tôn trọng UNCLOS mà mình là thành viên. Bởi vì cái “khu hành chính Hải Nam mới trên biển” nó không tuân thủ theo UNCLOS một cách trắng trợn, nó chỉ là sản phẩm của một tham vọng chủ quan Trung Quốc mà thôi.
Thứ hai, đây là hành động cậy mạnh, ngang ngược bất chấp, với một mưu mô xảo quyệt để từng bước chiếm trọn Biển Đông. Một hành động muốn làm lại luật, chia lại hiện trạng, dựa vào sức mạnh của một “đế quốc kiểu mới” đang trỗi dậy.
Còn nhớ, đầu năm 2013, nhà đương cục tại tỉnh Hải Nam đã thông qua Pháp lệnh quản lý trị an, cho phép Cơ quan an ninh biên giới của Sở Công an tỉnh khám xét, bắt giữ và trục xuất tàu bè nước ngoài “xâm nhập phi pháp” trên Biển Đông (từ 1-1-2013).  
Có thể nói, xét về mức độ và tính chất thì cái lệnh này năm 2013, còn hung hăng, ngang ngược, tham lam hơn rất nhiều cái lệnh năm 2014. Tại đây, Trung Quốc do đã động đến vấn đề “an toàn hàng hải” nên khiến cho các nước lớn nổi đóa, phản đối quyết liệt. Rốt cuộc, Trung Quốc chữa thẹn bằng cho rằng đây chỉ là quy định của chính quyền địa phương và cuối cùng im lặng, chấp nhận cái lệnh này trở nên vô giá trị.
Rút kinh nghiệm “ngoạm miếng to nuốt không trôi” lần trước, quy định lần này của các vị con trời ở đảo Hải Nam Trung Quốc, đối tượng hẹp hơn, chỉ là tàu đánh cá, do đó Trung Quốc chỉ nhắm tới 5 nước nhỏ, yếu, có tranh chấp trên biển mà đặt Mỹ, Ấn Độ, Nga và Nhật Bản ra ngoài cuộc chơi vì chẳng bao giờ tàu cá của Mỹ hay Nhật Bản…đến Biển Đông đánh bắt.
Đây là chiến thuật rất khả thi của Trung Quốc nhưng cũng rất chi là hèn hạ đối với một quốc gia mang danh là cường quốc, trung tâm thế giới.
Ngày 10/1, Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định những yêu sách đơn phương mà Trung Quốc áp đặt tại Biển Đông là bất hợp pháp và vô giá trị.
Bất hợp pháp là đương nhiên nhưng sẽ chắc chắn là vô giá trị với Việt Nam. 
Với CSB Việt Nam, chiến thuật “biển người” là vô tác dụng.
Dư luận thế giới và đa số người Việt Nam để rất quan tâm đến lược lượng Hải quân, không quân…của mình đã và đang tiến thẳng lên hiện đại. Nhưng có một lực lượng đang tiến thẳng lên hiện đại bằng sức trẻ, bằng một nhãn quan chiến lược cực kỳ nhạy bén, sắc sảo của bộ thống soái tối cao Việt Nam, đó là lực lượng Cảnh sát biển thì ít biết đến dù CSB Việt Nam đang hàng ngày hàng giờ sử dụng hết năng lực để hoàn thành nhiệm vụ.
Có thể nói so sánh về lực lượng Hải quân thì Việt Nam còn yếu mặt này mặt kia, nhưng với lực lượng CSB thì Việt Nam thuộc diện hiện đại và mạnh trong khu vực.
Tháng 6 năm 2013, khi con tàu L'Adroit thuộc lớp tàu tuần tra ven biển Gowind của Pháp sang thăm Việt Nam. Ngoài mục đích khẳng định mối quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước trên lĩnh vực kinh tế và quân sự, Pháp muốn giới thiệu với CSB Việt Nam về mẫu tàu mới này. Đây là con tàu có điểm đặc biệt là tàng hình và còn trang bị vũ khí phi sát thương gồm 2 súng nước có tầm bắn khoảng 200m và vũ khí âm thanh cỡ nhỏ (tầm ảnh hưởng 500-1.000m) ở hai bên mạn tàu.
Trung Quốc đã lo ngại nếu Việt Nam mua loại tàu này nhưng chắc chắn giới quan sát có hiểu biết của Trung Quốc sẽ lo ngại hơn khi thấy Việt Nam không có động tĩnh gì. Điều đó có nghĩa là…bạn có cần mua không thứ bạn đã có?
Mùa thu 2005, ngoài khơi bờ biển Somalia, hải tặc trên các tàu cao tốc bao vây tàu chở khách viễn dương “Seabourn Spirit”. Bọn hải tặc hoàn toàn tin tưởng vào sự vượt trội của chúng và yêu cầu thủy thủ đoàn thả thang dây, song chỉ vài phút sau, chúng buộc phải vứt lựu đạn và súng để ôm lấy đôi tai đau đớn. Hải tặc đã bị Thiết bị phát âm thanh tầm xa (Long Range Acoustic Device – LRAD) của Mỹ nện cho một đòn  nhớ đời.
Điều ngạc nhiên thú vị là không hiểu tại sao trên các tàu hiện đại của CSB Việt Nam đều trang bị LRAD của Mỹ, thiết bị có thể tạo ra âm hưởng tối đa 146 dB, cao hơn giới hạn gây đau đớn cho con người (120-130 dB) và gây thủng màng nhĩ. Đây là vũ khí phi sát thương chỉ được dùng trên biển để chống hải tặc và với Việt Nam thì dùng để xua đuổi hàng ngàn tàu cá ồ ạt xong vào vùng EEZ đánh bắt trái phép khi cần thiết?.
Năm 2014, Mỹ chính thức viện trợ cho Việt Nam 5 con tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng CSB Việt Nam. Thật ra, cái giá trị ở 5 con tàu này không phải là “cao tốc”, vì chỉ vậy thôi Việt Nam vẫn đóng được, mà nó nằm ở chỗ khi thấy nó thì ngay cả hải tặc cũng khiếp sợ chứ ngư dân trên tàu cá không là gì. 5 con tàu này chắc chắn không thể thiếu LRAD chính hiệu.
Với trang bị và sức mạnh hiện có, lực lượng CSB Việt Nam đủ sức bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của mình, đủ sức coi cái lệnh của chính quyển đảo Hải Nam là vô giá trị.

Tất nhiên, nếu như ai đó cậy mạnh, muốn đưa lực lượng hải quân hùng hậu vào cuộc lại là chuyện khác.

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

Vì ai mà chúng tôi ra nông nỗi này? 
(Tôi trích một đoạn trong hồi ký "Tình muộn" của tôi để ai đó đọc thì thông cảm cho tôi khi phải nổi nóng muốn đập tay Raisny một cái cuốc vào đầu cho hả giận.)
"....Quả thật, về lần này dẫu mẹ không nói hắn cũng cố sắp xếp thời gian để đến thăm một thằng bạn. Đó là Huy. Cùng một đơn vị trinh sát với nhau hắn và Huy có chung một người bạn rất thân nữa là Nguyên. Trong một lần đi điều nguyên căn cứ của địch, ba người không may đã sa vào một bãi mìn mà lần đầu tiên cánh trinh sát thủy quân lục chiến gặp phải cách gài. Đó là cối treo cây. Quả đạn cối 60li hoặc 81li được treo trên một cành cây cao. Hệ thống bẫy bố trí dưới mặt đất rất tinh vi mà đơn giản. Khi vừa nghe tiếng “phựt”, hắn, Huy, Nguyên nhanh như sóc tung người ra 3 phía nhưng không kịp. Quả cối 60li đúng là từ trên trời rơi xuống “Oàng”… Một tiếng nổ đanh vang lên phá tan vẽ tĩnh mịch âm u của rừng chiều. Nguyên gần nhất nên bị rất nặng, hai chân bị gãy nát, hy sinh ngay lúc đó. Có lẽ nhờ Nguyên che chắn hết nên hắn và Huy không dính mảnh cối nào. Cả hai đang chưa hết choáng váng, bàng hoàng trước cảnh tượng bạn đã hy sinh thì rất nhanh Huy đã phát hiện 5 tên lính Pôn Pốt từ xa đi tới. Chúng rất nghênh ngang và chủ quan vì cho rằng hệ thống bẫy đặt ngay tại điểm mà quả cối rơi xuống, nên khi cối nổ thì phải trúng ngay đội hình, và với sức công phá, sát thương của nó thì một tiểu đội cũng thương vong hết nói gì vài ba người mà lính trinh sát Việt Nam thường hay đi như thế. Nhưng chúng đã lầm, và khi kịp nhận ra sự sai lầm thì đã muộn… Để chúng tới gần, cách chừng 5mét, hắn vung tay ném quả US, thay vì ném vào giữa đội hình thì hắn lại ném ra xa phía sau lối đi bọn chúng chừng 6 đến 7mét. Cùng lúc đó, Huy với 2 loạt AK điểm xạ đã làm 2 tên đi đầu gục ngay tại chỗ.  Ba tên còn lại khiếp vía quay trở lại chạy tháo thân nhưng bị quả US của hắn đón đợi sau 7 giây đã nổ. Gọn gàng. Đây là cách đánh tiêu diệt gọn lính Pôn Pốt – quân chuyên đánh trộm rồi bỏ chạy như ma rừng – mà cánh lính trinh sát hay áp dụng. “Rút mau!” Hắn nói nhỏ và lao tới  Nguyên. Rồi, không biết sức mạnh nào mà với một trọng lượng 65 kg trên vai và một cơ số trang bị mà hắn vác Nguyên đi băng băng. Cả hai đều hiểu rằng thời gian bây giờ được tính bằng máu. Chạy chừng 10 phút cả hai đành phải rúc vào một hốc đá bởi có quá nhiều đạn M79 đang nổ lung tung trên hướng đi của họ.
 Rừng đã nhá nhem tối rồi tối hẳn, màn đêm che chở cho họ nhưng lại rất khó khăn để đưa Nguyên về nhà. Lúc đầu họ làm cáng để khiêng nhưng người đi đầu cứ va vấp cây rừng liên tục nên nhiều khi cả người lẫn cáng đều té nhào. Sau đó họ thay cáng bằng cách vác bạn lên vai, người đi trước mở đường và liên lạc với người vác đi sau bằng sợi dây võng. Cứ thế thay nhau, họ dò dẫm đi trong rừng đêm cho đến chừng 5 giờ sáng thì không thể đi tiếp được nữa. Áo quần, tóc tai tơi tả, bê bết máu bạn, cả hai ngồi bệt xuống tựa lưng vào gốc cây. Căng thẳng, đói, mệt hình như làm cho cả hai thiếp đi một chút nhưng chắc không được lâu, họ phải dậy ngay tức khắc bởi đàn kiến đỏ bâu quanh khi phát hiện mùi tanh của máu.
 Rừng đã sáng hẳn, Huy leo lên cây để xác định tọa độ. Họ chỉ còn cách đơn vị bạn chừng nửa km. Huy ở lại canh chừng, Thụ cằt rừng vào đơn vị bạn gọi người ra giúp.

Nguyên được khiêng đi rồi, hắn và Huy lê bước thất thểu theo sau. Bỗng nhiên hắn ngoái lại, đằng sau không có ai cả, chỉ có cây rừng và tiếng lá đưa xào xạc nhưng sao làm hắn sờ sợ. Cảm giác lạnh lưng, hở sườn cứ dồn dập, ám ảnh khiến hắn thốt lên: “Huy ơi!”. Hình như Huy không nghe tiếng hắn gọi, thấy cứ cắm cúi bước. Hắn vội bước nhanh tới ngang Huy thì … té ra Huy vừa đi, vừa khóc..."

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

CAMPUCHIA ĐANG BỊ NHIỄM “CÁCH MẠNG MÀU”?


Có một đọc giả khuyên tôi đừng viết sang lãnh vực chính trị (Vâng, chỉ bài này thôi), nhưng tôi đã từng vào sống ra chết ở đó, bạn tôi đang nằm ở đó nên khi nghe, thấy tay Raisny đê tiện, bỉ ổi này tôi muốn "đập cho nó một nhát cuốc vỡ sọ" như Pon pôt và quan thầy nó từng làm với dân Campuchia.Tức không chịu được
Lịch sử đã rành rành phơi bày cái gọi là “Cách mạng màu” chỉ là thứ virus gây bệnh nguy hiểm cho bất kỳ một chính phủ quốc gia nào, dân tộc nào tự tin, độc lập tự chủ…
"Cách mạng màu" hay còn gọi là "cách mạng đường phố", là tên gọi của những sự kiện chính trị, trong đó các phe đối lập sử dụng phương pháp chống đối phi bạo lực là chủ yếu để lật đổ chính quyền hiện hữu mà sau đó, tình hình xã hội, kinh tế, chính trị ở những nước có "cách mạng" chẳng những không được nâng lên một tầm cao hơn, mà thậm chí, còn bị kéo lùi xuống những tầng nấc thấp hơn, có biểu hiện suy thoái cục bộ.
Do đó, xét về mặt bản chất, các sự kiện đã diễn ra với tên gọi "cách mạng màu", "cách mạng đường phố", không phải là những cuộc cách mạng. Bởi vì, đã gọi là cuộc cách mạng là “thay cũ đổi mới”, cho nên, trên thực tế, đó chỉ là những cuộc "bạo loạn chính trị" dưới sự hỗ trợ của ai đó tài trợ, nhằm thay đổi chính quyền hiện hữu bằng một chính quyền mới thân với “kẻ tài trợ”.
Khi chính phủ một quốc gia nào đó, dù họ đang lãnh đạo đất nước phát triển nhưng tỏ ra độc lập, tự chủ, không theo sự chỉ đạo của nước lớn nào thì nguy cơ “cách mạng màu” sẽ xuất hiện.
Kịch bản, diễn viên, được đạo diễn như sau:
Thứ nhất, thủ lĩnh phe đối lập, bằng công cụ truyền thông định hướng dư luận thân, ghét những quốc gia chỉ định, sau đó tố cáo chính phủ hiện hành để tạo ra tâm lý hoài nghi.
Thứ hai là tố cáo gian lận bầu cử (nếu đảng mình bị thất cử), đòi bầu cử lại bằng việc tổ chức biểu tình để gây áp lực. Khi cảm thấy cuộc biểu tình đã có lực lượng tham gia quá đông, chính phủ mất quyền kiểm soát thì họ sẽ tiến hành gây bạo loạn, lật đổ chính phủ hiện hành.
“Cách mạng màu” đang diễn ra ở Campuchia?
Việt Nam và thế giới không quên ông Sam Rainsy, Chủ tịch đảng cứu quốc Campuchia (CNRP) trước và sau khi bầu cử đã không ngớt lời ủng hộ Trung Quốc và công nhận các đảo trên Biển Đông đều là của Trung Quốc, một sự việc mà trên thế giới chỉ có người Trung Quốc mới dám tuyên bố. Ngoài ra ông còn quay sang ủng hộ Mỹ và đặc biệt, trong bất luận thời điểm nào thì Việt Nam là đối tượng mà ông Sam Rainsy chĩa mũi dùi vào đả kích, bôi nhọ và xuyên tạc tình hữu nghị Việt Nam và Campuchia. (Vì sao Việt Nam thì cái trò kích động thù hằn dân tộc để trục lợi của một vài phe nhóm chính trị trên khu vực và thế giới thời gian qua đã rõ.)
Thất bại trong bầu cử, đảng CNRP của ông Rainsy tẩy chay quốc hội, tố cáo gian lận trong bầu cử, đòi bẩu cử lại. Để gây áp lực, đương nhiên, sẽ có các cuộc biểu tình mà ai cũng biết CNRP sẽ tổ chức sắp tới như kịch bản.
Và, cuộc biểu tình được CNRP tổ chức kéo theo hàng chục ngàn người tham gia, đòi Thủ tường Husen từ chức, rầm rộ, đặc biệt trong mấy ngày qua.
Một đất nước nghèo, đang dần ổn định, đi lên, chưa kịp vui với những con số tăng trưởng đáng mừng đang bị các cuộc biểu tình làm náo loạn. Bạo lực đã xảy ra làm ít nhất 4 người thiệt mạng và hàng chục người bị thương.
Điều mà nhân dân khu vực ĐNA này ghi nhớ và ghi nhận là “cách mạng đường phố” không phải chỉ tại Campuchia, Thái Lan …mà nó sẽ xuất hiện tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới khi một phe nhóm chính trị nào đó muốn chiếm quyền thì vì lợi ích nhóm, họ sẵn sàng bất chấp lợi ích quốc gia, dân tộc. Đất nước càng náo loạn, rối loạn họ càng hưởng lợi.
Chính vì vậy mà ngay Liên bang Nga, ông chủ tịch Hội dồng an ninh Nga tuyên bố là Nga không bao giờ chấp nhận “cách mạng màu” là vậy.
Vậy thì kịch bản, diễn biến sự kiện chính trị tại Campuchia y chang các cuộc “cách mạng màu” hay “cách mạng đường phố” rồi còn gì.
Rõ ràng phe đối lập đang tổ chức một cuộc “bạo loạn chính trị” nhằm lật đổ chính quyền của Thủ tướng Hunsen đã xảy ra tại Campuchia
Campuchia đang ra tay “quét virus”?
Cuộc biểu tình ở Campuchia và Thái Lan đang diễn ra trong bối cảnh chính quyền hiện hành đều cho là vi hiến. Tuy mục đích giống nhau nhưng ông Suthep ở Thái Lan tỏ vẻ hung hăng, táo tợn hơn ông Rainsy bởi vì quân đội Thái Lan không phải là quân đội Campuchia.
Tại Campuchia, trong khi biểu tình đang tràn ngập đường phố, quân đội Capuchia tổ chức diễn tập bắn đạn thật, Thủ tướng Hunsen ngày 3,4/1 sang thăm Việt Nam và vừa rồi ngài Chủ tịch quốc hội Campuchia sang Việt Nam dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày 2 nước tiêu diệt bọn diệt chủng Khmer Đỏ.
Một thông điệp rắn cho phe đối lập là chính phủ kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng mà binh lính, nhân dân đã tốn vô vàn máu xương mới có được.
Khác với quân đội Thái Lan, Bộ Quốc phòng Campuchia khẳng định: “Quân đội Hoàng gia sẽ quyết tâm bảo vệ kết quả bầu cử Quốc hội khóa V và Chính phủ Hoàng gia dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Hunsen để tiếp tục cải cách một cách sâu rộng, có chất lượng và hiệu quả, Quân đội Hoàng gia quyết tâm, với danh dự của mình, trong việc hoàn thành nghĩa vụ một cách quyết liệt để duy trì trật tự và an ninh quốc gia”.
Đến thời điểm này 5/1, trước sự trấn áp của lực lượng an ninh và quân cảnh, cuộc biểu tình đã bị rã đám, cùng với đó, Tòa án Campuchia cũng đã triệu tập ông Sam Rainsy và cấp phó của ông ta là Kem Sokha để thẩm vấn “vì việc kích động hành vi tội phạm hoặc có hành vi dẫn tới sự hỗn loạn nghiêm trọng ảnh hưởng đến an sinh xã hội”.
Trốn chạy hay “trong khi nhiều thành viên đảng đối lập Campuchia CNRP tập hợp nhau tại trụ sở của đảng thì các lãnh đạo cấp cao đã phải tới "một nơi an toàn" và bí mật”...là điều tất yếu phải tính đến đầu tiên khi Campuchia không phải là Thái Lan.
Chúng ta không ngại biểu tình, nhưng biểu tình của một nhóm người lợi dụng dân chủ để kích động bạo loạn, lật đổ, bấp chấp lợi ích quốc gia là không thể chấp nhận. Một cuộc “cách mạng đường phố” như vậy chẳng đem lại kết quả tốt đẹp gì như đại đa số người dân mong đợi.
Không biết Campuchia vào thời kỳ trước năm 1979 thì ông Raisny cùng CNRP đang ở đâu, tại sao không “biểu tình” để chống Khmer Đỏ? Tên là “Đảng cứu quốc” sao không thành lập lúc đó mà cứu quốc? Trong khi đó có những người Việt Nam cùng tuổi như ông đã lại vì dân tộc Campuchia mà vào sống ra chết, mất đi bao người bạn. Vậy, họ và chính phủ của dân tộc đã thoát nạn bị diệt chủng của Đảng nhân dân Campuchia (CPP) do Hunsen làm thủ tướng có chấp nhận bị cướp đi dễ dàng chỉ bằng cách “diễu phố, đập phá” hay không? Không bao giờ! Đó là quy luật cách mạng.
Nhân dân Việt Nam không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, láng giềng, nhưng rất mong muốn láng giềng ổn định và phát triển.

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

THĂM ĐỀN YASUKUNI LÀ QUYỀN CỦA ÔNG SHINZO ABE. ĐỪNG LÀM TO CHUYỆN ĐỂ KÍCH ĐỘNG HẰN THÙ DÂN TỘC.


Bản thân đền Yasukuni không có gì xấu xa, quan trọng là Thủ tướng Nhật Bản đến đó viếng thăm để làm gì. Ông cầu khẩn cho đất nước hòa bình mà không giống với những gì như tiền nhân đã gây ra hay thề nguyện một lòng rửa hận…mới là quan trọng.
Đền Yasukuni thực chất là nơi thờ cúng những người đã bị chết trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 của Nhật Bản. Nếu như “nghĩa tử là nghĩa tận” mà người Á Đông quan niệm thì dù người đã chết có tội, những người đang sống có nhân cách, văn hóa, không ai bới tung mồ mả của họ, không ai ngăn cấm con cháu họ đến thắp một nén nhang nhớ về tiền nhân.
Nếu quan điểm cho rằng đền Yasukuni là thờ cúng những người có tội, cho nên ai vào đó thăm viếng đều có ý đồ xấu xa là không đúng. Vậy, đền thờ Quan âm Bồ tát đó, liệu mọi người vào đó thăm viếng, cầu khẩn đều là có ý đồ tốt đẹp cả chắc? Nhầm to.
Như vậy, ai trong ngôi đền đó không quyết định tốt, xấu cho hiện tại và tương lai mà nhân cách người cầu nguyện, nội dung cầu nguyện như thế nào mới quyết định cho hiện tại, tương lai.
Trung Quốc và Hàn Quốc coi đền Yasukuni là biểu tượng cho chủ nghĩa quân phiệt Nhật và thái độ phủ nhận quá khứ của Nhật Bản. Vì thế, bất kỳ nhà cầm quyền Nhật Bản nào vào thăm đền không cần biết mục đích gì, là Trung Quốc và Hàn Quốc ra sức phản đối, chỉ trích mạnh mẽ cho rằng Nhật Bản khiêu khích, “thách thức trật tự thế giới thời hậu chiến”...
Tại sao Trung Quốc, Hàn Quốc lại khắt khe với Nhật Bản đến vậy nếu như không muốn nói là duy trì quá lâu mối hận thù dân tộc? Chẳng lẽ trên khu vực Châu Á-TBD này chỉ mỗi Trung Quốc và Hàn Quốc bị Nhật Bản xâm lược thôi sao?
Vậy, tội ác ngàn đời mà các triều đại phong kiến Trung Quốc gây ra cho dân tộc Việt Nam, mà chỉ riêng triều đại nhà Minh thôi đã “độc ác thay! trúc Nam Sơn không ghi hết tội, dơ bẩn thay! nước Đông Hải không rửa sạch mùi” thì sao?
Vậy, tội ác man rợ tày trời của lính Pác Chung Hi gây ra với dân tộc Việt Nam trong chiến tranh thì sao?
Chẳng lẽ Việt Nam phản đối, chỉ trích bất kỳ ai vào thăm đền Vương Thông hay Liễu Thăng? Vô lý!
Tội ác mà Nhật Bản gây ra cho dân tộc Trung Hoa và Triều Tiên thì chẳng thấm vào đâu so với tội ác mà quân xâm lược gây ra cho dân tộc Việt Nam.
Ai xin lỗi, dân tộc Việt Nam đây? Ai bồi thường cho dân tộc Việt Nam đây? Và nếu có thì làm sao mà đến bù được máu?
Quá khứ chúng ta không quên nhưng không lấy nó để áp đặt cho hiện tại, chỉ những kẻ có dã tâm mới luôn đem chuyện quá khứ ra để điều chỉnh hành vi hiện tại. Quá khứ là lịch sử, đã là lịch sử thì đương nhiên cả tư tưởng, hành động cũng đều không tiên tiến, mới mẻ bằng hiện tại và chỉ có thể lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho hiện tại, tương lai mà thôi.
Khép lại quá khứ để hướng tới tương lại là quy luật phát triển tất yếu của việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia.
Tiếc thay có những quốc gia dùng quá khứ để kích động hận thù giữa các quốc gia, dân tộc để đạt một mục đích chính trị của mình.
Ngôi đền Yasukuni không tạo ra tính “diều hâu”, “hiếu chiến”, “dân tộc chủ nghĩa”…(nếu có) của ông Shinzo Abe khi đến thăm mà trớ trêu thay tạo ra cho Thủ tướng Nhật Bản tư tưởng đó lại chính từ Trung Quốc.
Khách quan, chưa nói đến ai đúng ai sai trong việc Trung-Nhật tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Chỉ biết rằng trong vụ tranh chấp này thái độ hung hăng của Trung Quốc đã kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa của không những thủ tướng Nhật Bản mà cả nước Nhật Bản.
Trung Quốc nói trỗi dậy hòa bình nhưng ngân sách quốc phòng tăng hàng năm 2 con số. Cậy mạnh, đe dọa sử dụng vũ lực, Trung Quốc bất chấp, hung hăng đòi biến Biển Đông thành “ao nhà”, khống chế các tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên Biển Đông. Trung Quốc đòi chủ quyền ở Sekaku, đơn phương lập ADIZ trên Hoa Đông…Tất cả những hành động, mục đích đó đều đe dọa, thách thức đến chủ quyền an ninh Nhật Bản…
Từ năm 2010 đến nay, Nhật Bản đã chuẩn bị đủ mọi thứ cần thiết để đối đầu với Trung Quốc như, tái vũ trang, vô hiệu hóa điều 9 Hiến pháp…là những điều mà Trung Quốc cho rằng Nhật Bản đã phục hồi chế độ quân phiệt…và đang rất lo ngại.
Nếu đánh giá của Trung Quốc về Nhật Bản là đúng thì Thủ tướng Nhật Bản ông Shinzo Abe đi thăm đền Yasukuni hay không đi chẳng có gì quan trọng, chẳng thay đổi được gì nước Nhật Bản.
Vậy ông Abe đi thăm đền Yasukuni nhằm mục đích gì?
Thứ nhất là ông Shinzo Abe thăm đền là chỉ nhắm vào Trung Quốc (Hàn Quốc thừa biết) rằng: “Trước đây còn chút tình gì đó với nhau nên nể nang, bây giờ Trung Quốc và Nhật Bản chẳng còn gì để “vì nhau”, chẳng còn gì để mất thì việc gì mà phải giữ ý tứ cho rách việc”.
Thứ hai là, nếu như Trung Quốc thông qua phát ngôn của các tướng lĩnh “diều hâu”…như La Viện chẳng hạn, rằng “…Nhật Bản muốn đánh nhau thì dẫn xác đến”, hoặc, “Nhật Bản muốn hòa đàm thì được, còn đánh nhau thì tiếp”…thì đi thăm đền Yasukuni, ông Shinzo Abe cũng nhún vai mà rằng “Đã đến nước này thì Trung Quốc muốn chơi kiểu gì cũng chiều, chấp hết”.
Trung Quốc và Nhật Bản bây giờ giống như 2 kẻ điếc (nghĩa là không nghe được nhau, ai nói người nấy nghe).
Trung Quốc và Nhật Bản bây giờ là 2 cường quốc kinh tế, quân sự hùng mạnh trên thế giới.
Vì vậy cuộc chiến giữa họ xảy ra cũng là cuộc chiến khủng khiếp không có kẻ thắng người thua, cho nên, tốt nhất đừng đem ra để dọa nhau. Thử xem!

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

MỤC TIÊU CHÍNH CỦA TÀU NGẦM VIỆT NAM: sÂN BAY VÀ TÀU SÂN BAY.

“Chống lưng” cho không quân Việt Nam.
Sự xuất hiện đúng lúc của lữ đoàn tàu ngầm Việt Nam sẽ có tác dụng rất lớn trong việc “chống lưng” cho không quân Việt Nam. Điều nghe vô lý, khập khểnh, nhưng hoàn toàn thực tế.
Nhiều chuyên gia quân sự nước ngoài cho rằng Việt Nam xây dựng lữ đoàn tàu ngầm theo “chu trình ngược”. Nghĩa là thay vì phải xây dựng một lực lượng săn ngầm mạnh thì Việt Nam lại xây dựng lữ đoàn tàu ngầm, bởi 6 chiếc tàu ngầm Việt Nam không thể đối đầu với hơn 70 chiếc tàu ngầm đủ loại của Trung Quốc…
Nhưng, thứ nhất là, Việt Nam thành lập lữ đoàn tàu ngầm không phải để đối đầu hay tấn công Trung Quốc mà chỉ để phòng thủ trên “sân nhà”, nơi có địa thế lợi hại trong một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng.
Thứ hai là , giả sử Việt Nam có mua sắm nhiều phương tiện săn ngầm hiện đại như P1 của Nhật Bản, P-8A của Mỹ…cùng các tàu săn ngầm hiện đại nhất thế giới thì liệu những phương tiện đó có không gian để săn ngầm đối phương hay không? Chắc chắn không vì khi đó vùng trời đã bị đối phương khống chế, làm chủ thì P1 hay P8…đều trở thành kẻ bị săn.
Như vậy, đối tượng tác chiến chủ yếu của tàu ngầm Việt Nam không phải là hơn 70 chiếc tàu ngầm Trung Quốc là rõ ràng.
Chiếm ưu thế tác chiến trên không của vùng biển để làm chủ hoàn toàn vùng trời trên vùng biển nơi xảy ra tác chiến của lực lượng không quân, không quân hải quân là nhiệm vụ trọng yếu mang tính chiến lược mà lực lượng tàu ngầm Việt Nam phải bằng mọi cách để đạt được.
Địa lợi vốn dĩ đã tạo ra cho Việt Nam ưu thế đó và tàu ngầm Việt Nam phải tác chiến để duy trì ưu thế đó.
Chúng ta thừa biết cho đến thời điểm này, ngoài Mỹ ra chưa có một quốc gia nào có thể có ưu thế tuyệt đối khi tác chiến trên vùng trời của vùng biển quần đảo Trường Sa trừ Việt Nam. Bởi lẽ, chỉ có Mỹ mới có tàu sân bay còn quốc gia nào không có tàu sân bay thì quần đảo Trường Sa nằm ngoài tầm bay của máy bay họ, kể cả Trung Quốc, ít nhất sau năm 2016 mới có thể có tàu sân bay đúng nghĩa (Vì thế, cho nên dù rất muốn nhưng Trung Quốc cũng chưa thể tuyên bố ADIZ trên Biển Đông là vậy, tuy nhiên, cũng có nhiều học giả Trung Quốc đã quá sốt ruột, họ hô hào Trung Quốc cho tàu sân bay Liêu Ninh xuống Biển Đông để khống chế vùng trời thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tiếc thay các học giả quá khích, “vô tích sự” này đâu biết rằng hiện tại cái gọi là tàu sân bay Liêu Ninh của họ chưa đáp ứng được một phần trăm điều họ kỳ vọng).
Không quân, Hải quân Việt Nam còn ít về số lượng, nếu không quân địch chiếm ưu thế trên vùng trời quần đảo Trường Sa, tức là gần hơn ta, nhiều hơn ta, điều này chỉ xảy ra khi chỉ khi tàu sân bay ngang nhiên hoạt động mà khộng bị trừng trị, lúc đó “thế” bị mất, “lực” thì yếu, Việt Nam sẽ gặp vô vàn khó khăn.
Vì vậy, sân bay và tàu sân bay là mục tiêu chính, hàng đầu của tàu ngầm KILO Việt Nam nhắm tới.
Tiêu diệt tàu sân bay, đánh phá sân bay địch đồng nghĩa với duy trì lợi thế cho không quân làm chủ vùng biển, quần đảo, bảo đảm cho không quân phát huy sức mạnh quyết định của tác chiến không đối hạm.
Chúng ta đã quá hiểu biết về sự thống trị vùng trời, yếu tố quyết định thành bại trong chiến tranh hiện đại vũ khí công nghệ cao. Bởi vậy, chừng nào không quân và không quân hải quân của Việt Nam còn có ưu thế khi tác chiến trên vùng trời của vùng biển xa, đảo xa như trên quần đảo Trường Sa chẳng hạn thì chưa phải là lúc địch dám liều lĩnh tấn công.
Và, đó có lẽ cũng chính là sức mạnh răn đe mà tàu ngầm Việt Nam tạo ra lớn hơn bất cứ lực lượng nào có thể.
Có thể tiêu diệt được tàu sân bay hay không?
Để tiêu diệt một tàu sân bay Mỹ, mạnh như Hải quân Trung Quốc cũng phải mất toi 40% lực lượng.
Xem ra, tiêu diệt được một chiếc tàu sân bay (trên giấy tờ, tính toán) hiện nay ở vùng khơi xa là một bài toán khó, phức tạp chưa có lời giải.
Tuy nhiên, tàu sân bay Mỹ kéo đến eo biển Đài Loan thử xem hay tàu sân bay Liêu Ninh đi sâu vào phía Nam Biển Đông thử xem…lúc đó thì bài toán sẽ bớt phức tạp hơn và chắc chắn sẽ có lời giải.
Điều đó có nghĩa là không gian địa lý chật hẹp sẽ hạn chế rất nhiều khả năng bảo vệ của tàu sân bay.
Chẳng hạn, cái khó khăn đầu tiên để xác định tọa độ tàu sân bay đã được đơn giản bởi một hệ thống quan trắc, chỉ thị mục tiêu tầm gần luôn có độ chính xác và hiệu quả cao. (Chắc chắn khi tàu sân bay Mỹ đi đâu thì Nga, Trung Quốc luôn có lực lượng bám theo để chỉ thị mục tiêu và đương nhiên khi chiến tranh xảy ra thì chúng là lực lượng tế thần đầu tiên. Nhưng khi tàu sân bay Liêu Ninh đến Biển Đông thì Việt Nam chẳng cần vậy.)
Hoặc do phải chống lại hay phải tránh đòn đánh từ đất liền (điều kiêng kị của bất kỳ hạm đội tàu sân bay nào) cho nên cái “ma trận” khủng khiếp, bất khả xâm phạm của nó khi ở ngoài khơi dứt khoát buộc phải thay đổi…
Đó cũng chính là cơ sở cho Việt Nam “đặt bút” giải bài toán này dù rằng lực lượng không nhiều. (Nếu như Trung Quốc đang có ý đồ sử dụng tàu sân bay để khống chế vùng trời quần đảo Trường Sa của Việt Nam thì chẳng ai ngạc nhiên và thắc mắc “giả thiết của bài toán” mà Việt Nam “đặt bút” và may sao, chắc chắn nó đơn giản hơn nhiều lần cái hạm đội tàu sân bay Mỹ.)
Nguyên tắc cơ bản trong ý đồ tác chiến của Việt Nam là phát huy địa lợi, kết hợp chặt chẽ giữa chiến thuật và công nghệ, những gì công nghệ chưa thể thì chiến thuật bổ sung nhằm tạo ra một phương án tấn công khả thi.
Mới đây Hoàn cầu Thời báo cho rằng Việt Nam chi tiền khủng xây dựng lữ đoàn tàu ngầm KILO hiện đại, tiên tiến hơn KILO của Trung Quốc để có được một “con bài” chơi với Trung Quốc trên Biển Đông. Trong khi đó, Tân Hoa xã thì cho rằng Việt Nam đang xây dựng “khu mai phục tàu ngầm” để hướng đến “cổng vào” eo biển Malacca”…
Tất cả những điều đó về mục đích thì còn tùy, chưa thể khẳng định đúng sai, nhưng về nội dung thì có vẻ như hoàn toàn trùng hợp với tư tưởng, nghệ thuật quân sự mà Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo đã dạy cho con cháu Việt Nam là “quân cốt tinh, không cốt đông” hay “lấy ít đánh nhiều thường dùng mai phục” thì chẳng cần phải bàn.
Tiêu diệt một tàu sân bay là vô cùng khó khăn, gian nan và sẽ bị nhiều tổn thất với giá đắt theo như tính toán về mặt lý thuyết. Thực tế là từ khi kết thúc chiến tranh thế giới đến nay, lực lượng bảo vệ cho tàu sân bay hiện đại, tiên tiến gấp nhiều lần nhưng lại chưa có cuộc tấn công nào vào hạm đội tàu sân bay cả, thậm chí ngay Trung Quốc trong hai lần khủng hoảng eo biển Đài Loan, chưa đánh đã phải khuất phục khi nó tiến vào, chứng tỏ nó rất đáng sợ, nguy hiểm.
Tuy nhiên, với Việt Nam, bất kỳ hạm đội tàu sân bay nào mà xâm phạm chủ quyền biển đảo thì dù chúng có sức mạnh khủng khiếp “bất khả xâm phạm” đến cỡ nào, Việt Nam cũng dám đánh, quyết đánh và sẽ có cách đánh.
Chẳng phải Điện Biên Phủ mà cả Pháp lẫn Mỹ trước khi chưa bị quân đội Việt Nam tấn công đều khẳng đinh, tự hào, khoe khoang là cứ điểm “bất khả xâm phạm”, là “cối xay thịt bộ đội Việt Nam” đó sao?
Chẳng phải Mỹ, không những thế,ngay cả các cường quốc cũng đã từng cho rằng "B-52 là pháo đài bay bất khả xâm phạm" đó sao?

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

TẠI SAO TÀU NGẦM VIỆT NAM ĐÁNG SỢ?

Chào mừng tàu ngầm Hà Nội đã gia nhập vào quân đội Nhân dân Việt Nam. Bắt đầu từ đây Việt Nam đã có thứ vũ khí mới rất “vừa tay”, hợp lối đánh sở trường, hợp địa lợi để tự vệ chính đáng bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam trong quá trình chiến tranh giải phóng cũng như bảo vệ Tổ quốc thì giới quân sự đều phải công nhận Việt Nam lúc này có sự chuẩn bị kỹ càng nhất, bài bản nhất, thực lực khởi điểm mạnh nhất và thậm chí, có những lực lượng quân sự mang tính đột phá, lại còn chiếm ưu thế hơn so với đối tượng được coi là mối nguy cơ, thách thức đến an ninh chủ quyền Việt Nam.
Chưa xuất hiện nhưng đã có rất nhiều đánh giá, bình luận về việc 6 chiếc tàu ngầm mà Việt Nam sở hữu trong năm 2016. Nào là “tàu ngầm KILO thay đổi cán cân quân sự trên Biển Đông”; “sức mạnh Hải quân Việt Nam có bước phát triển nhảy vọt”…và ngay cả Trung Quốc, một cường quốc khu vực có lượng tàu ngầm gấp hơn 10 lần nhưng cũng tỏ vẻ lo ngại, thậm chí cho rằng nó “nguy hiểm đến an ninh quốc gia Trung Quốc!!!”…
Tại sao tàu ngầm Việt Nam được giới quan sự quan tâm?
Vì tàu ngầm KILO của Việt Nam quá hiện đại tiên tiến vượt trội các loại tàu ngầm khác trong khu vực chăng?
Không phải! KILO của Việt Nam chẳng là gì so với hơn 70 chiếc tàu ngầm lớp này lớp kia của Trung Quốc và đặc biệt chẳng thấm vào đâu so với tàu ngầm Soryu công nghệ AIP của Nhật Bản.
Vì do Hải quân Việt Nam sử dụng tàu ngầm quá tài giỏi chăng?
Cũng không phải! Kinh nghiệm chiến đấu và kinh nghiệm sử dụng tàu ngầm của Việt Nam chỉ là con số “0”, bởi đây là lữ đoàn tàu ngầm đầu tiên trong biên chế tổ chức của Hải quân Việt Nam.
Vậy thì sự đánh giá đó xuất phát từ cơ sở nào?
Chính xác, giới quân sự quan tâm đến tàu ngầm Việt Nam bởi 2 khía cạnh. Một là địa thế nơi nó hoạt động có tạo ra mối nguy hiểm cực kỳ, khó đối phó cho mục tiêu mà nó nhắm tới hay không và địa thế đó có một vị trí như thế nào trên Biển Đông và trong khu vực Châu Á-TBD. Hai là tư tưởng và hình thức tác chiến của tàu ngầm Việt Nam như thế nào.
Địa thế và vị trí Việt Nam trong tác chiến ngầm.
Rất đơn giản và dễ hiểu là vì tàu ngầm KILO được giới quân sự mệnh danh là “lỗ đen” trên đại dương, nghĩa là có tính bí mật rất cao, lại nằm trong tay Việt Nam, một quốc gia có vị trí chiến lược rất quan trọng trên Biển Đông với một địa thế quân sự rất hiểm hóc, công thủ đều lợi hại.
Với một “địa thế” như vậy chỉ cần có một “lực” nhỏ tối thiểu cũng tạo ra được một sức mạnh đáng nể, một thế trận vững chắc.
Với một địa thế như vậy thì tàu ngầm KILO sẽ phát huy hết sở trường, ưu thế vốn có của nó và do vậy độ nguy hiểm mà nó đem đến cho kẻ thù là cực cao.
Với một địa thế như vậy lại nằm trong một vị trí có tầm quan trọng chiến lược, đó là án ngữ tuyến đường hàng hải huyết mạch từ Ấn Độ dương sang TBD là “con đường sống” cho nền kinh tế nhiều quốc gia, cường quốc…thì không quan tâm không được.
Sẽ ra sao nếu như eo biển Malacca bị một chiếc tàu ngầm của Malaisia hay của Singapo cùng với mấy quả thủy lôi bịt lối?...
Đó là lý do vì sao khi Việt Nam chỉ mới sở hữu một số lượng tàu ngầm ít ỏi mà đã khiến cho ai đó có sự lo ngại và giới quan sát, quân sự lại quan tâm.
Tư tưởng và hình thức tác chiến của tàu ngầm Việt Nam.
Sẽ chẳng bao giờ có một tờ báo nào, bài báo nào có thể, có khả năng nêu được cái nghệ thuật tác chiến ngầm của Hải quân Việt Nam, bởi lẽ những tài liệu đó bao gồm như: Chiến thuật ngầm trong phục kích, rải thủy lôi; chiến thuật ngầm trong bí mật vận động bám sát mục tiêu; chiến thuật ngầm trong hợp đồng đưa đón đặc công nước; chiến thuật ngầm trong tấn công vào sân bay bến cảng; vân vân và vân vân thì đang có ở Phòng tác chiến-Bộ Tham mưu Hải quân với dấu tuyệt mật đỏ chót.
Nhưng về tư tưởng tác chiến (cũng như tư tưởng quốc phòng) thì chúng ta chẳng có gì phải giấu giếm.
Quả thật là với hơn 3000 km đường bờ biển, với hơn 1 triệu km vuông phải bảo vệ thì với 6 chiếc tàu ngầm chỉ là “muối bỏ bể”. Chúng ta không hy vọng tàu ngầm KILO sẽ thực hiện chiến thuật “giăng mành”…để tiêu diệt tàu ngầm đối phương hay vận động tấn công vào các khu trục hạm của địch…các lực lượng khác sẽ chia xẻ nhiệm vụ này.
Do đó, tư tưởng chỉ đạo tác chiến là tàu ngầm Việt Nam đã đánh là phải tổ chức đánh hiểm, ưu tiên những mục tiêu mang tầm chiến lược, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, quân sự của đối phương.
Chẳng hạn tấn công vào các đoàn tàu vận tải quân sự, các tuyến đường hàng hải quan trọng của đối phương; tấn công vào tàu sân bay địch…
Thứ hai trong tư tưởng tác chiến thì lấy hình thức phục kích (dấu hiệu cơ bản của phòng thủ, tự vệ, không đe dọa tấn công ai) là lối đánh sở trường, chủ yếu.
Con Hổ rượt đuổi để vồ mồi (rượt-vồ) bao giờ cũng tốn sức và có kết quả thấp hơn con Hổ ngồi rình chờ con mồi đi qua để vồ (rình-vồ). Hình thức “rượt-vồ” chỉ xảy ra trên một khu vực rộng mênh mông mà không thể dùng trên một khu vực chật hẹp, có nhiều độc đạo…là nơi chỉ hợp với cách “rình-vồ”. “Rình-vồ” ở những khu vực đó thì xác suất thành công gần như 100%.
Biển Đông đã trở nên quá chật hẹp khi có quá nhiều KILO và các chủng loại tàu ngầm khác nên rất phức tạp khi xác nhận bạn, thù mà sai lầm có thể gây ra thảm họa. Vì thế tàu ngầm hoạt động tác chiến trong khu vực đó càng đơn lẻ, có tính độc lập cao bao nhiêu càng có hiệu quả bấy nhiêu.
Mặt khác, bề dày kinh nghiệm hoạt động tàu ngầm Việt Nam còn mỏng, cho nên việc vận động tiếp cận, tấn công mục tiêu cần phải có thời gian để thuần thục. Trong khi đó, với địa thế “đắc địa” của Việt Nam thì tàu ngầm chúng ta có rất nhiều vị trí để “rình” (phục kích), những vị trí đó là những vị trí mà “con mồi” phải đi qua và buộc phải đi qua.
Chính vì thế mà “rình-vồ” là hình thức tác chiến tối ưu nhất và nguy hiểm khó lường nhất của lực lượng tàu ngầm Việt Nam gây ra cho đối phương.
“Rình-vồ” trong thời chiến là tàu ngầm Việt Nam bí mật chờ đợi trong vùng “biển sạch”, khi mục tiêu xuất hiện đúng tầm hỏa lực là ấn nút.
“Rình-vồ” trong thời bình là tàu ngầm Việt Nam bí mật bám sát thường xuyên các mục tiêu chiến lược như tàu sân bay, các tuyến hàng hải quan trọng của đối phương…để khi chuyển sang trạng thái chiến tranh, có lệnh là ấn nút.
Địa lợi, vị trí chiến lược và tư tưởng chỉ đạo sử dụng chúng là điều duy nhất khiến cho giới quân sự đối phương lo sợ trước việc xuất hiện tàu ngầm Việt Nam trên Biển Đông dù cho số lượng và chất lượng chẳng thấm vào đâu với họ.
Nếu như chuyên gia quân sự của Nga nhận xét rằng: “Tàu ngầm KILO chỉ cần một quả tên lửa thì tàu sân bay cỡ Liêu Ninh của Trung Quốc chìm nghỉm” là đúng, thì…coi thường 6 chiếc tàu ngầm KILO của Việt Nam chỉ gồm những kẻ “diều hâu không tỉnh táo”.
Tuy nhiên, tàu ngầm Việt Nam chỉ phòng thủ, tự vệ, trong chủ quyền biển đảo Việt Nam mà không đe dọa, không đủ sức đe dọa đến chủ quyền biển đảo của quốc gia nào.

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

ADIZ CỦA VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG, TẠI SAO KHÔNG?



Điều khẳng định chắc chắn là nếu quốc gia nào lập khu nhận dạng phòng không trên Biển Đông thì sẽ có nhiều vùng chồng lấn rộng lớn lên chủ quyền, quyền chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.

Ngay tại khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) của Trung Quốc trên biển
Hoa Đông cũng đã chồng lấn lên chủ quyền và quyền chủ quyền của 2 quốc gia là Hàn Quốc và Nhật Bản, còn Đài Loan thì chúng ta không quan tâm ở đây tuy rằng họ hô hào phản đối và cũng thay lời muốn nói cho Trung Quốc dọa dẫm các nước ĐNA, chẳng hạn họ cảnh báo rằng Hoa Đông chỉ là đòn nghi binh, Biển Đông mới thật sự đòn chính của Trung Quốc, rồi thì dọa dẩm, khuyên răn theo kiểu “Đài Loan phải báo cáo kế hoạch bay với Trung Quốc cho an toàn”…
Nếu ADIZ trên Biển Đông thì ngoài Việt Nam sẽ có nhiều quốc gia khác như Philippin, Malaisia, Brunei, Indonesia…cũng bị rơi vào hoàn cảnh tương tự.
ADIZ của Trung Quốc trên biển Hoa Đông bị phá như thế nào?
Việc 2 chiếc B-52 bay vào ADIZ của Trung Quốc khiến giới quan sát vỡ vạc ra nhiều vấn đề.
Mỹ không sử dụng F-22 vì F-22 hay B1, B2 gì đó là vì đây là những loại máy báy tàng hình, nếu sử dụng hóa ra Mỹ sợ Trung Quốc nên chỉ lén lút mà không dám công khai . Trong khi đó B-52 không phải là máy bay tàng hình (thế giới công nhận như vậy) thì bay vào đó là bay vào công khai cho đồng minh và thế giới biết.
Điều đáng buồn là Trung Quốc không phát hiện ra B-52 mà chỉ biết khi Mỹ công bố sau đó 7 tiếng đồng hồ.
Nên nhớ rằng khi Trung Quốc đã tuyên bố ADIZ trên biển Hoa Đông thì Bộ quốc phòng của họ đã chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện cần thiết chứ không phải suông vì đây là tuyên bố tầm quốc gia của một siêu cường đang cố chứng minh cho thế giới biết sức mạnh của mình. Khi đó, bất kỳ một chiếc máy bay nào vào đó đều bị phát hiện và nhắc nhở ngay để thể hiện uy danh cường quốc chứ không phải chuyện đùa.
Nhưng cũng nên hiểu rằng, phát hiện ra máy bay B-52, trên thế giới này chỉ có Việt Nam. Việt Nam phát hiện được B-52 không phải chỉ bằng kỹ thuật đơn thuần mà bằng cả chiến thuật và rất nhiều máu xương…chứ không dễ dàng như mấy ông tướng diều hâu tưởng tượng.
Vì thế Mỹ dùng B-52 là đắc sách là nước cờ cao, vừa kiểm tra năng lực “nhìn” của Trung Quốc, vừa đề phòng khỏi mất mặt nếu bị Trung Quốc phát hiện ra rồi phát lời cảnh báo.
Phát hiện ra B-52 Mỹ bay vào không phận hay không hay chỉ thấy trên màn hình radar bị nhiễu nặng, là cách mà B-52 thường tạo ra, thì chỉ Trung Quốc biết. Chỉ biết rằng, khi không phát hiện được B-52 bay vào lãnh hải, lãnh thổ, thì…coi như xong. Trung Quốc đừng huênh hoang và còn rất nhiều việc để làm.
B-52 còn chưa phát hiện ra thì máy bay ném bom hiện đại B-2 của Mỹ sẽ làm mưa làm gió bất cứ đâu trên không phận Trung Quốc.
Theo hành động của Mỹ, Hàn Quốc cũng không thèm “báo cáo”, bay vào ADIZ như chưa hề có tuyên bố của Trung Quốc. Trong khi đó thì Nhật Bản hành xử còn rắn hơn…nhưng Trung Quốc chưa có hành động nào cứng rắn để thực thi, ngoại trừ có nhiều hãng hàng không trình kế hoạch bay với Trung Quốc do vì tiền, vì an toàn cho hành khách.
Điều này chứng tỏ Trung Quốc chưa đủ khả năng sức mạnh để trấn áp buộc các quốc gia khác phải thực thi trên ADIZ của mình trên biển Hoa Đông.
Việt Nam và ADIZ trên Biển Đông.
Khu vực nhận dạng phòng không của quốc gia nào đó lập ra là buộc các máy bay của các hãng hàng không báo cáo kế hoạc bay, các máy bay quân sự cũng phải vậy. Nếu có hướng, hành động ảnh hưởng đến an ninh của quốc gia thì lập tức sẽ dùng biện pháp phòng không khẩn cấp.
Điểm đăc biệt của ADIZ trên Biển Đông là do Biển Đông là hẹp nên ADIZ luôn chồng lấn lên chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia xung quanh, ngoại trừ do chính các nước xung quanh tự lập ra trong khu vực EEZ của mình.
Điều khẳng định chắc chắn là nếu như có quốc gia nào đó lập khu nhận dạng phòng không trên Biển Đông thì sẽ có nhiều vùng chồng lấn rộng lớn lên chủ quyền, quyền chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.
Khu “nhận diện phòng không” và khu vực “cấm đánh bắt” về hình thức khác nhau, nhưng về tính chất thì không khác nhau là đều buộc các quốc gia khác thực thi yêu cầu của mình trong khi chính mình lại không nằm trong phạm vi điều chỉnh (đương nhiên) trên khu vực đó.
Việt Nam đã có kinh nghiệm và đối sách có hiệu quả trong khu vực “cấm đánh bắt” mà Trung Quốc tuyên bố (phi lý, phi pháp), nhưng Philippin, theo khả năng của mình, cũng có sách lược khá hay, đó là lập tức tuyên bố khu vực mà Trung Quốc tuyên bố cũng là khu vực “cấm đánh bắt”.
Điểm duy nhất khiến ta chú ý trong cách này của Philippin là “anh cấm tôi thì tôi cũng cấm anh”, nghĩa là trong khu vực đó anh cũng phải và cũng bị trấn áp nếu không tuân thủ.
Bởi vậy, nếu như quốc gia nào tuyên bố ADIZ xâm hại đến chủ quyền và quyền chủ quyền của chúng ta thì Việt Nam cũng tuyên bố ADIZ của mình ngay và lập tức tại khu vực đó, đồng thời, được mở rộng để phục vụ yêu cầu của chiến thuật phòng thủ khẩn cấp.
Tại sao không? Điều này vừa khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền hợp pháp nhưng cũng khẳng định quyền tự vệ chính đáng của chúng ta.
Việt Nam từ xưa tới nay, khi bất kỳ kẻ thù nào xâm phạm đến chủ quyền thì dù chúng hung bạo bao nhiêu cũng không sợ, dù có phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng cũng sẵn sàng.
Trước việc Trung Quốc lập ADIZ trên biển Hoa Đông, dư luận đang lo ngai Trung Quốc sẽ tiến hành lập các ADIZ khác mà chủ yếu là trên Biển Đông khiến dư luận quốc tế lo ngại.
Điều đặc biệt nguy hiểm là khi Mỹ phát hiện và khẳng định khả năng của Trung Quốc sau vụ B-52 thì Mỹ có khả năng sẽ “chơi con bài Trung Quốc” mạnh dạn hơn, sâu hơn.
Đó là, Mỹ đánh vào tâm lý của chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Trung Quốc, “bật đèn xanh”, khuyến khích để Trung Quốc lập ADIZ trên Biển Đông gây căng thẳng trong khu vực để Mỹ trục lợi.
Việt Nam và Trung Quốc quá hiểu nhau và quá hiểu Mỹ, cho nên, chắc chắn đôi bên sẽ có những tham vấn cần thiết, những đối sách cần thiết để Biển Đông ổn định, hòa bình, phát triển thịnh vượng.