Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

VÌ SAO TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM KHÔNG KỶ NIỆM CUỘC CHIẾN NĂM 1979?

Đương nhiên, Việt Nam và Trung Quốc có 2 cách giải thích khác nhau hoàn toàn về mục đích được coi là “nhạy cảm” của cuộc chiến này.
Suốt 35 năm qua, Trung Quốc không lúc nào ngừng tuyên truyền trong nội bộ họ về cuộc chiến tranh biên giới. Các bài báo, các tác phẩm văn học, các tác phẩm điện ảnh… đều nêu lên một điều là họ đã thắng lớn trong cuộc chiến đó. Trung Quốc cho rằng đó là một cuộc chiến tranh phản kích tự vệ chống lại “tiểu bá Việt Nam”. Điều đó có nghĩa là Việt Nam gây hấn trên biên giới, tấn công vào Trung Quốc.
Cách đặt tên cho cuộc chiến tranh này của nhà cầm quyền đã lừa bịp người dân và người lính Trung Quốc suốt một thời gian dài khi trình độ dân trí của dân Trung Quốc còn thấp, mọi liên lạc thông tin với quốc tế bị hạn chế dù không cần phải bưng bít.
Ngày nay dân trí Trung Quốc đã khác, nếu chính quyền cứ dùng luận điệu rất lố bịch này để tuyên truyền thì dân Trung Quốc sẽ coi như chính phủ đã xúc phạm đến họ và sẽ phản tác dụng.
“Một sự bất tin vạn sự bất tín”, đã đến lúc người dân Trung Quốc tự hỏi tại sao lại lừa dối họ? Đây là câu hỏi mà Bắc Kinh rất khó trả lời nên tốt nhất là ỉm đi cho xong chuyện.
Với Việt Nam thì chẳng cần phải hô hào, cuộc chiến này là chính nghĩa và sự thật không thể chối cãi là Việt Nam đã chiến thắng, một chiến thắng hiển hách nhất trong lịch sử chống giặc phương Bắc.
Nói là hiển hách nhất bởi có mấy kết quả sau:
- Đánh tan một đạo quân đông nhất hơn 60 vạn tên.
- Nhanh nhất với chỉ 16 ngày.
- Lần đầu tiên chặn ngay địch từ cửa ngõ biên giới.
- Giống Lý Thường Kiệt khi tấn công vào đất địch và giống Nguyễn Trãi khi mở đường cho địch rút chạy mà không tấn công truy kích.
- Giống Tổ tiên khi thực hiện đối ngoại sau chiến tranh.
Một sự thật hiển nhiên như vậy nên Việt Nam chẳng cần phải khuếch đại phô trương chiến thắng. Trung Quốc quốc là nước lớn nên cứ để cho họ coi là chiến thắng cũng chẳng sao. Chiến thắng Mỹ đã khiến Mỹ thù vặt, cấm vận Việt Nam 20 năm trời đã cho Việt Nam bài học quý giá.
Tuy thế nhưng Việt Nam vẫn khắc cốt ghi tâm cuộc chiến đó bằng những hành động của mình. Đó là con cháu được học về cuộc chiến tranh đó, những anh hùng liệt sỹ, thương binh được tôn vinh như những anh hùng, liệt sỹ, thương binh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước đây. (Lưu ý, chỉ có ông tướng Cương và Dương Trung Quốc chẳng có con cháu, hay anh em là thương binh, liệt sỹ trong cuộc chiến năm 1979 và không chịu đọc sách nên nói năng bất chấp sự thật mà thôi).
Kết luậ là: Nếu anh bắn vào lịch sử một viên đạn thì sẽ nhận lại một quả đại bác.

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

KHÔNG GÌ CÓ THỂ SO SÁNH, ĐÁNH ĐỔI MÁU XƯƠNG CỦA NGƯỜI LÍNH


Không một người lính nào muốn ngồi vào cái gọi là “Tàu ngầm Trường Sa” đó để “đánh bom tự sát”. Tư tưởng quân sự Việt Nam, nghệ thuật quân sự Việt Nam không có lối đánh đó.

Việc một công nhân “hai lúa” hay kỹ sư cơ khí nào đó của một xí nghiệp tư nhân có ý tưởng chế tạo máy bay hay tàu ngầm hiện nay phải được coi như là một nhân tài Việt Nam và các cơ quan khoa học Việt Nam phải có trách nhiệm nhảy vào đó mà nâng niu, xây dựng, phát triển…ư? Hay là phát động phong trào “nhà nhà sản xuất gang thép”?

Với đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước tiến hành ra sao thì không nằm trong sự quan tâm để bàn ở đây. Nhưng hiện đại hóa quân đội, đưa không quân, Hải quân…tiến thẳng lên hiện đại trong tình thế mới thì chắc chắn không phải theo cách đó.

Nên biết rằng vào những năm 80 Việt Nam đói khổ, khó khăn đến thế nhưng đội ngũ khoa học Viện kỹ thuật Không quân đã chế tạo thành công máy bay TL-1. Đó là chiếc máy bay “Made in Viet nam” đầu tiên tung cánh trên bầu trời năm 1980. Điều đó khẳng định sản xuất chế tạo máy bay đã cách đây 35 năm Việt Nam còn làm được (Vì thế bây giờ đừng tự thổi phòng ý tưởng tự chế tạo máy bay, tàu ngầm với các nhà khoa học quân sự Việt Nam, họ không ngạc nhiên đâu, chẳng thiên tài gì lắm đâu).
Tuy nhiên, bây giờ tại sao ta không phát triển ngành chế tạo máy bay từ cơ sở đó mà vẫn mua máy bay SU-30?. Điều đó để cho các nhà khoa học quân sự, các nhà tham mưu chiến lược quân đội hiểu rõ. Chỉ biết rằng nếu như Tự chế tạo ra được máy bay, tàu ngầm mà phục vụ tốt cho yêu cầu nhiệm vụ cấp bách quân đội trong tình hình mới thì chúng ta làm lâu rồi.
Tiếp thu công nghệ và làm chủ nó với tự lực mày mò từ đầu, con đường nào nhanh đến đích hơn?

Chẳng phải chúng ta đã tự đóng tàu tên lửa Molniya, tự đóng tàu CSB 8001 hiện đại và mới đây nhất, những cán bộ khoa học quân sự đã “nội địa hóa” mũ bay của SU-30 đó sao?

Đó là một trong những vô vàn biểu hiện của tiếp thu làm chủ công nghệ tiên tiến đấy…

Cuối cùng với giới quân sự và toàn thể đồng bào Việt ta thì không có thứ gì có thể so sánh, đánh đổi với xương máu của của người lính. Tiền của không mua được máu xương, nhưng nếu như sử dụng nó để giảm thiểu máu xương cho người lính trên chiến trường thì dân tộc Việt dù có đói ăn vẫn không tiếc.

Đã qua rồi thời chúng ta buộc phải ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch, qua rồi thời chúng ta phải dùng 3 tàu phóng lôi lạc hậu lao ra đánh đuổi khu trục hạm để bảo vệ chủ quyền. Đã qua rồi thời người lính Việt Nam phải lấy thân mình lấp lõ châu mai, phải lấy thân chèn pháo. Không có vũ khí trang bị hiện đại, người lính chúng tôi phải đổ biết bao nhiêu là máu không?.

Trước tình hình căng thẳng trên Biển Đông thì không có chỗ cho các nhà khoa học quân sự Việt Nam “vui chơi giải trí”, bất kỳ nhà nghiên cứu nào làm gì thì làm, thử nghiệm gì thì thử nghiệm, nhưng đừng có đùa với máu của người lính. Phải ưu tiên, lựa chọn những gì tốt nhất cho người lính của mình, đó là chủ trương đường lối của quân đội, của lòng dân, là sách lược mang tính nhân văn cao cả.

Còn cái gọi là “Tàu ngầm Trường Sa” ấy à, xin lỗi, dù nó có thành công đến Trường Sa 10, 20 đi nữa thì với khả năng nền tảng công nghệ của Việt Nam cũng không thể dùng vào mục đích quân sự. Và khi đã dùng được thì kẻ thù đã coi nó là đồ chơi trẻ con mất rồi.

Không một người lính nào ngu si muốn ngồi vào cái tàu ngầm đó để đánh bom tự sát.. Tư tưởng quân sự Việt Nam không có lối đánh đó. Dân tộc Việt không đời nào cho phép và muốn người lính của mình phải chịu đựng như thế.


Lê Ngọc Thống

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Góc nhìn của lính: "TÀU NGẦM TRƯỜNG SA" HAY LÀ "THÙNG SẮT ĐỂ CHẠY THỬ CÔNG NGHỆ AIP?

Là một kỹ sư cơ khí, sáng chế, ông Hòa hơn ai hết hiểu được cái gọi là tàu ngầm Trường Sa của mình sẽ dừng lại ở đâu và vì sao. Bởi vì, tự chế một chiếc trực thăng thì mơ ước có thể trở thành hiện thực, nghĩa là nó có thể bay lên không trung, bay xa hàng trăm km từ sự sáng tạo có tính độc lập (chưa đánh giá về chất lượng), nhưng với tàu ngầm, một phương tiện đặc biệt, đi ngầm dưới biển, khả năng của ông Hòa là không thể. Nó - “tàu ngầm Trường Sa” chỉ là đứa con sinh ra vừa điếc vừa mù, là cái "thùng sắt" để nghiên cứu động cơ AIP thì đúng nghĩa hơn.
Lấy giả thiết tuyệt vời nhất để thỏa mãn ý chí, tình cảm một số người là “tàu ngầm Trường Sa’ chế tạo thành công, nghĩa là động cơ AIP hoạt động tốt, tính ổn định toàn tàu tốt, thậm chí đi nổi tốt…thì vấn đề đặt ra là liệu nó có đi ngầm dưới biển được an toàn hay không?
Đối với tàu mặt nước, khi hành trình trên biển (không phải tác chiến) thì nhiệm vụ quan trọng nhất của người sỹ quan chỉ huy hoa tiêu hàng hải là phải xác định chính xác vị trí tàu bằng các phương pháp như thiên văn, địa văn hoặc bây giờ là qua hệ thống định vị vệ tinh. Nhưng độ chính xác cao nhất, tin tưởng nhất tức sai số bình phương trung bình của vị trí tàu nhỏ nhất vẫn là địa văn nếu như có điều kiện. Ban đêm, khi hành trình trên biển, mây mưa, sóng to gió lớn, khi vệ tinh không tác dụng thì ao ước của người đi biển là chỉ nhìn thấy ngọn đèn biển là có thể biết được tàu mình ở đâu cách đảo đá ngầm bao xa…Đây là thách thức rất nghiệt ngả mà một người từng là sỹ quan hoa tiêu chỉ huy hàng hải như tôi hoặc bất kỳ vị chỉ huy hoa tiêu hàng hải nào cảm nhận được.
Nhưng đó mới chỉ là tàu mặt nước, hành trình ngầm dưới biển còn thách thức nghiệt ngã còn gấp nhiều lần.
Đầu tiên phải kể đến sự liên lạc với chỉ huy trên bờ.
Công nghệ, vật chất để cho tàu ngầm và trên bờ liên lạc được với nhau là yếu tố mang tầm quốc gia, cực kỳ khó khăn và nhạy cảm. Phải xây dựng một trung tâm phát sóng tần số rất thấp hay VLF (là thuật ngữ dùng để chỉ tần số vô tuyến (RF) trong dải từ 3 đến 30 kHz và có bước sóng tương ứng từ 10 tới 100 km), trên đồ thị nó gần như một đường thẳng vì thế băng thông nó hẹp nên không tải được tín hiệu khác ngoài các chuỗi ký tự và tùy theo nồng độ nước biển, sóng này có thể xuyên sâu từ 10 đến 40 mét nước biển nên có thể liên lạc với tàu ngầm. Nhưng có được một trạm phát kiểu này không đơn giản.
Hoặc phải đặt nhiều bộ thu và phát âm thanh dưới đáy biển tại những tọa độ mà tàu ngầm của ta thường đi qua. Khi những tàu ngầm này đi qua gần khu vực đó, nó có thể liên lạc với bờ và với nhau được qua sóng âm.
Các tàu ngầm hiện đại ngày nay liên lạc với chỉ huy trên đất liền bởi một vệ tinh riêng bằng cách sử dụng các phao nổi trên mặt nước như là các thiết bị truyền âm trung gian giữa tàu ngầm và bộ chỉ huy. Những chiếc phao dài hơn 1 mét này này có thể được phòng ra từ tàu ngầm thông qua các máng trượt xả chất thải và giữ kết nối với tàu thông qua các sợi dây cáp truyền tín hiệu. Và sau khi hoàn thành công tác liên lạc thì tàu ngầm sẽ cắt dây để thả những chiếc phao đó tự chìm.
Cuối cùng là trang bị cho tàu ngầm hành trình ngầm dưới biển bảo đảm an toàn hàng hải.
Đi biển luôn luôn bằng kính tiềm vọng thì chẳng ai gọi là tàu ngầm. Hiện nay hải quân một số nước đã phát triển hệ thống định vị quán tính (SINS) cho phép tàu ngầm có thể định hướng ở dưới nước bằng cách theo dõi chuyển động tương đối của nó so với một vật chuẩn xuất phát. Tuy nhiên đó chỉ là số liệu tham khảo, tàu ngầm vẫn phải nổi sát mặt nước hoặc sử dụng các biện pháp liên lạc hiện đại để cập nhật vị trí tàu khi hành trình…mà không bị lộ bí mật. Vân vân và vân vân.
Vậy một tàu ngầm mà hành trình ngầm dưới biển mà thuyền trưởng không biết đi đâu, về đâu, không ai chỉ huy thì có dám đi biển hay không? Ông Hòa có dám đem cái gọi là "tàu ngầm" đó ra biển thử nghiệm không? Đừng đùa với biển.
Là một kỹ sư cơ khí, sáng chế, ông Hòa hơn ai hết hiểu được cái gọi là tàu ngầm Trường Sa của mình sẽ dừng lại ở đâu và vì sao. Bởi vì, tự chế một chiếc trực thăng thì mơ ước có thể trở thành hiện thực, nghĩa là nó có thể bay lên không trung, bay xa hàng trăm km từ sự sáng tạo có tính độc lập (chưa đánh giá về chất lượng), nhưng với tàu ngầm, một phương tiện đặc biệt, đi ngầm dưới biển, khả năng của ông Hòa và xí nghiệp là không thể đảm bảo điều kiện tối thiểu. Nó - “tàu ngầm Trường Sa” chỉ là đứa con sinh ra vừa điếc vừa mù.
Việc chế tạo “tàu ngầm Trường Sa” có thể là do đam mê hay là gì không rõ, nhưng “Tàu ngầm Trường Sa” của ông Hòa không bao giờ có thể đáp ứng được những yêu cầu mang tính đặc thù khắt khe tối thiểu của tàu ngầm khi hoạt động.
Một mình xí nghiệp của ông Hòa, “Tàu ngầm Trường Sa” không thể đi ngầm từ bờ ra biển khơi dù chỉ một hải lý mà muốn được như vậy cần phải có sự hỗ trợ cấp nhà nước, quân đội…Nhưng, vấn đề là nhà nước có “đầu tư” vào dự án đó hay không? Có đầu tư không khi dự án đó là tốn kém mà khi hoàn thành thì trở nên lạc hậu, không phục vụ được gì cho kinh tế và quốc phòng?
Tuy nhiên trong bức tranh đó, điểm sáng khiến người Việt vui mừng và hy vọng nhất là động cơ AIP. Công nghệ này cực kỳ phức tạp mà ngay Trung Quốc cũng chưa làm được (Làm được thì họ không phải nài nỉ Nga mua tàu ngầm Amur).
Động cơ công nghệ AIP nếu thực sự được hội đồng kỹ thuật cấp quốc gia giám định, nghiệm thu, có giá trị sử dụng thì đây là một “bảo vật quốc gia” và kỹ sư Hòa sẽ được cả nước tôn vinh.
Hoạt động nghiên cứu, sáng chế khoa học của kỹ sư Hòa là rất trân trọng dù thành công đang còn ở phía trước. Tuy vậy không vì thế mà tung hê, phủ nhận vai trò thành quả của của các cơ quan nghiên cứu khoa học quốc gia, những giáo sư, tiến sỹ đang ngày đêm nghiên cứu cải tiến những đề tài không công bố, phục vụ cho kinh tế quốc phòng.
Các bạn có biết Hệ thống thông tin quản lý vùng trời quốc gia VQ9801 là gì không? Hệ thống này có nhiệm vụ xử lý, cung cấp thông tin cho các cấp lãnh đạo của lực lượng Phòng Không- Không quân nói riêng và Quân đội nói chung về mọi tình huống diễn ra trên không, nhằm đảm bảo cho việc ra quyết định một cách chính xác và hiệu quả. Hệ thống do các đối tác nước ngoài cung cấp toàn bộ phần cứng, phần mềm và đào tạo nhân lực.
Trải qua hơn 10 năm khai thác, hệ thống đã hết thời hạn sử dụng và bộc lộ một số hạn chế khó khắc phục. Trước tình hình đó, tháng 4/2012, Bộ Quốc phòng đã chính thức giao cho Tập đoàn Viettel- trực tiếp là Viện Nghiên cứu Phát triển Viettel (Viện CNPT Viettel) nghiên cứu chế tạo hệ thống duy trì và sẵn sàng thay thế cho hệ thống VQ9801, làm tiền đề cho chiến lược xây dựng hệ thống quản lý vùng trời hiện đại thế hệ thứ 2- VQ2.
Việt Nam đã thành công, làm chủ hoàn toàn công nghệ khiến cho Ixrael tâm phục khẩu phục đến mức không dám đem bán sản phẩm của họ…
Còn rất nhiều, rất nhiều thành quả tiếp thu cải tiến công nghệ bí mật thành công không được công bố…đã chứng tỏ trí tuệ, bản lĩnh người Việt Nam mà trước hết là các nhà khoa học Việt Nam.
Có ai biết vệ tinh mini của Việt Nam được Nhật Bản phóng lên dùng để làm gì? Biết đâu trên công nghệ liên lạc hiện đại của tàu ngầm KILO, các kỹ sư Việt Nam nghiên cứu thành công công nghệ phân bố khóa điện tử (QKD) tăng tốc độ liên lạc gấp 600 lần so với VLF. Khi đó, KILO Việt Nam có thể lặn sâu hơn 100 m và di chuyển với tốc độ cao mà vẫn bảo đảm liên lạc thông suốt, kể cả trao đổi các gói dữ liệu video theo thời gian thực?…
Tốt nhất đừng gọi tên là "tàu ngầm Trường Sa" mà chỉ nên gọi là "thùng sắt để nghiên cứu động cơ AIP" thì đúng hơn.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

VÌ SAO GIỚI QUÂN SỰ VIỆT NAM CHƯA QUAN TÂM ĐẾN “TÀU NGẦM TRƯỜNG SA”?


Việc một kỹ sư cơ khí chế tạo thành công (theo như báo chí đăng tải) động cơ AIP có thể làm cho nhiều tiến sỹ khoa học trong nước bối rối, suy nghĩ, nhưng với giới quân sự, AIP cùng với “tàu ngầm Trường Sa” có khả năng lặn, nổi…thành công thì vẫn chưa là vấn đề gì hết.
Vũ khí trang bị phải phục vụ cho lối đánh nhưng trên hết phải đáp ứng theo yêu cầu nhiệm vụ của quân đội, đồng thời phát huy nền nghệ thuật quân sự truyền thống. Chẳng có quốc gia nào đi mua sắm, chế tạo vũ khí mà không phục vụ cho nhiệm vụ của quân đội, hay làm mất đi tính độc đáo nghệ thuật quân sự của mình.
Tư tưởng nghệ thuật quân sự Việt Nam chủ yếu là phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Phòng thủ hướng nào là chính, phòng thủ như thế nào (tư tưởng, chiến thuật) thì vũ khí mua sắm, chế tạo phải phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ chiến lược đó. Mua sắm, chế tạo vũ khí trang bị xa rời các mục tiêu trên coi như tự sát về kinh tế, tự sát về lối đánh sở trường, tất yếu sẽ bị thất bại.
Thông qua việc một kỹ sư cơ khí người Việt Nam của một doanh nghiệp tư nhân đã tự chế tạo và thử nghiệm thành công công nghệ AIP, công nghệ được coi như là “bí mật quốc gia” của bất kỳ quốc gia nào đang sở hữu, thì người Việt chúng ta có quyền tự hào về trí tuệ của mình. Người viết bài này đã từng mong mỏi cho cuộc thử nghiệm “tàu ngầm Trường Sa” thành công, nhưng đó chỉ là vần đề tình cảm. Tình cảm và lý trí là 2 vấn đề khác nhau.
Trong bối cảnh “toàn cầu hóa” hiện nay, với công nghệ tiên tiến phát triển nhanh đến chóng mặt thì không chịu tiếp thu, sử dụng thành quả nền công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới là sẽ bị tụt hậu, đó không phải sách lược khôn ngoan. Việt Nam phải đầu tư tiền của, trí tuệ tiếp thu công nghệ mới, cải tiến, phát triển phù hợp với bản sắc Việt Nam. Đó chính là sách lược đi tắt, đón đầu khôn ngoan nhất.
Nghiên cứu để chế tạo ra một chiếc máy bay để bay được trên bầu trời hay một chiếc tàu ngầm có thể đi ngầm dưới biển thì với tất cả quốc lực và trí lực, vấn đề đó không khó với Việt Nam hay quốc gia nghèo nào khác. Nhưng chắc chắn, chiếc máy bay, tàu ngầm đó không thể như SU-30, KILO của Nga. Vậy thì tại sao Việt Nam lại đầu tư nguồn lực, tài lực vào một việc không thực tế, lãng phí như vậy khi không dành nguồn đó để sở hữu SU-30, tàu ngầm KILO…rồi tiếp thu công nghệ đó, cải tiến, phát triển cho riêng mình…
Vì thế vai trò, ý nghĩa của “tàu ngầm Trường Sa”, do vậy, cũng chỉ dừng tại đó, tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là tất cả…
Lực lượng “đặc công ngầm” Việt Nam?
Phải công nhận rằng lực lượng tàu ngầm mini của Bắc Triều Tiên dù không hiện đại tiên tiến bằng các quốc gia khác nhưng trên chiến trường Triều Tiên lại là lực lượng đáng gờm và nguy hiểm nhất cho Hàn Quốc và Mỹ.
Khi “tàu ngầm Trường Sa” thử nghiệm trong bể nước…có vẻ như chắp cánh cho ý tưởng 2 trong 1(đặc công và tàu ngầm mini), một lực lượng “đặc công ngầm” Việt Nam trong tương lai... Tuy nhiên, điều đó dành cho những người có trí tưởng tượng cao, là sản phẩm tư duy của chiến tranh giải phóng Tổ quốc.
Trên chiến trường Biển Đông, trong tư duy chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đáng tiếc là nó không phù hợp như chiến trường Triều Tiên.
Như sử dụng một thanh kiếm, Việt Nam không cần một thanh kiếm quá ngắn, quá nhỏ, quá nhẹ, cũng không cần một thanh kiếm quá dài, quá lớn quá nặng, Việt Nam cần một thanh kiếm mà độ dài vừa đủ để công thủ toàn diện, độ lớn, độ nặng vừa đủ để điều khiển dễ dàng theo ý muốn. Và, trên chiến trường Biển Đông, tàu ngầm KILO hoàn toàn đáp ứng.
Tàu ngầm KILO, sự lựa chọn hoàn hảo.
Để đánh giá mức độ ưu việt của mỗi loại tàu ngầm động cơ thông thường (loại trừ động cơ hạt nhân và AIP) người ta đều xuất phát từ 5 tiêu chí cơ bản, bao gồm 3 tiêu chí tính năng kỹ thuật là: độ ồn (tính bí mật), độ nhìn (khả năng phát hiện của hệ thống quan trắc) và tầm hoạt động. 2 tiêu chí còn lại thuộc về tính năng chiến thuật là: sức mạnh của hệ thống vũ khí và khả năng tác chiến đa nhiệm.
Xét trên cả 5 tiêu chí thì tàu ngầm Kilo đều thuộc loại tiên tiến nhất trên thế giới.
Nhưng điều đó chưa phải là điều quyết định mà điều quyết định với Việt Nam là 5 tiêu chí đó hoàn toàn phù hợp đến từng chi tiết với địa hình, khu vực phòng thủ, tư tưởng tác chiến, lối đánh sở trường, nghệ thuật quân sự…giống như tàu ngầm KILO là do Việt Nam tự nghiên cứu chế tạo vậy.
Nếu Nhật Bản bán cho Việt Nam 6 chiếc tàu ngầm AIP lớp Soryu giá cả như tàu ngầm KILO, thì nhà kinh doanh sẽ mua ngay vì nó quá hiện đại, quá rẻ so với KILO, nhưng là nhà quân sự thì có cho thì lấy nhưng không mua hoặc mua thì sẽ đem bán lại ngay cho…Trung Quốc kiếm lời rồi mua ngay KILO sau đó.
Điều này có nghĩa, ít nhất trong tương lai gần, Việt Nam chưa cần tàu ngầm AIP hiện đại cỡ như lớp Soryu của Nhật Bản, bởi lẽ, trong vùng biển gần phòng thủ của Việt Nam, tàu ngầm KILO phát huy sở trường, sự lợi hại hơn nhiều loại tàu ngầm trang bị động cơ AIP.
Tàu ngầm trạng bị động cơ AIP có 2 ưu thế là: dùng để nạp điện cho acquy mà không cần nổi lên và duy trì tính bí mật khi bám sát, theo dõi mục tiêu thường xuyên, dài ngày trên một khu vực biển rộng. Tuy nhiên hạn chế của nó là tốc độ di chuyển chậm (Vmax từ4-5 M/h) nên khi tấn công và rút lui khỏi khu vực tác chiến đều phải dùng động cơ chạy bằng năng lượng điện. Mặt khác khi trang bị hệ thống động cơ AIP thì tàu ngầm buộc phải “phình” to ra nên cơ động tàu hạn chế.
Tàu ngầm KILO của Việt Nam, căn cứ vào tính năng kỹ chiến thuật và với yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến, khu vực tác chiến được giao…trong một thế trận phòng thủ chung thì giới quân sự khi lên phương án tác chiến không phải bị cản trở bởi vấn đề KILO thiếu năng lượng điện để tác chiến.
Nếu ở vùng biển gần, xét về tiêu chí "chi phí-hiệu quả” thì các tàu ngầm có động cơ AIP có ưu thế hơn cả các tàu ngầm nguyên tử, nhưng xét về nhiệm vụ của KILO Việt Nam mà nó phải hoàn thành thì KILO ưu thế hơn tàu ngầm có động cơ AIP.
Chiến lược tàu ngầm hiện đại ngày nay thì việc triển khai các tàu ngầm chủ yếu không phải trên các tuyến giao thông đại dương mà ở gần bờ biển của mình hoặc của nước khác. Cho nên với nền tài chính hiện có, với tình hình khu vực Biển Đông, với đối tượng tác chiến tiềm tàng…KILO Việt Nam là sự lựa chọn hoàn hảo.
KILO sinh ra như là để cho Việt Nam và chỉ có trong tay Việt Nam, KILO mới lợi hại hơn vốn có bội phần.
Rốt cuộc, nếu cần đầu tư vật lực, trí lực thì mục tiêu là làm sao cho KILO Việt Nam có tính năng kỹ chiến thuật phát triển hơn nữa, độc đáo hơn nữa hoặc tự sản xuất ra cỡ như nó khi được bàn giao công nghệ.
“Tàu ngầm Trường Sa” chỉ là chuyện nhỏ.

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2014

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!


Lê Ngọc Thống xin gửi đến các bạn xa gần lời chúc sức khỏe. Năm Mới hạnh phúc bình an. Cảm ơn các bạn đã không chê nhà nghèo vẫn đến thăm trong thời gian qua.

TRUNG QUỐC BỊ NHỪ ĐÒN Ở CHÂU PHI


Việc Thủ tướng Nhật Bản đi thăm đền Yasukuni, Trung Quốc huy động 43 vị đại sứ của mình trên khắp thế giới, đồng loạt đăng tải các bài viết trên báo chí toàn cầu, “dạy lịch sử” cho các quốc gia sở tại vế chiến tranh thế giới lần thứ 2, đã đành, nhưng việc ông Shinzo Abe đi thăm 3 nước châu Phi thì có gì mà Trung Quốc cũng phản ứng quyết liệt?
Trước hết hãy biết một điều, đó là có một cuộc chiến bí mật, đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu của châu Phi đã và đang diễn ra quyết liệt. Sự quyết liệt của cuộc đối đầu này đã thể hiện tầm quan trọng của nguồn nguyên liệu châu Phi đối với sự sống còn của các nước này về phương diện kinh tế, đồng thời cũng qua đó họ khẳng định sức mạnh, vị thế của mình trên trường quốc tế.
No đòn
Trong năm 2008, Trung Quốc nhập khẩu 32% lượng dầu mỏ qua châu Phi trong khi Mỹ là 80%. Năm 2010 Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ xăng dầu nhiều nhất thế giới, trên cả Mỹ trong khi chỉ nắm giữ 1,7% trữ lượng dầu mỏ thế giới mà nhu cầu tiêu dùng thì gia tăng một cách chóng mặt. Đến năm 2020, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu 10-15 triệu thùng/ngày. Đối với Bắc Kinh, dầu mỏ đã trở thành là “nổi ám ảnh quốc gia” thực sự.
Để khắc phục sự thiếu hụt trầm trọng đó, Trung Quốc triển khai trên toàn bộ các vùng chiến lược của thế giới một “chính sách ngoại giao tài nguyên”, thực hiện một loạt chính sách năng lượng mới. Và châu Phi là nơi mối quan tâm được tăng lên trong chính sách năng lượng của Trung Quốc, là “miền đất hứa” trong tương lai.
Đương nhiên, Mỹ cũng có chiến lược của mình và Châu Phi đã trở thành nơi sàn đấu cuộc chơi năng lượng quy mô lớn của 2 cường quốc kinh tế và quân sự Mỹ, Trung Quốc.
Trước thời điểm tháng 7/2011. Tại Libya, Mỹ và liên quân đã xóa bỏ chế độ Gaddafi khiến Trung Quốc mất trắng 20 tỷ USD (con số chưa chính thức) khi đầu tư ở đó về cơ sở hạ tầng, viễn thông và dầu lửa. Tình trạng giao tranh ác liệt trong thời kỳ Mùa xuân Ả rập 2011 cũng làm cho dự án này tới dự án khác bị bỏ trống khiến Trung Quốc bị thua lỗ nặng nề bởi hơn nửa đầu tư của Trung Quốc trong lĩnh vực dầu lửa ở nước ngoài là ở các khu vực bị coi là bất ổn, như Iran, Nigeria, Sudan, Nam Sudan và Venezuela.
Đây là những canh bạc đầy rủi ro, nhưng các thị trường chính đều đã bị các hãng phương Tây thống trị hoặc bị giới hạn sản lượng do các lệnh trừng phạt, khiến cho Trung Quốc không có mấy lựa chọn.
Rõ ràng là Trung Quốc không bao giờ coi Mỹ vô can trong chuyện này, tuy nhiên, trên “sàn đấu” Sudan mới thể hiện một cuộc đấu năng lượng quyết liệt rõ ràng nhất giữa Mỹ và Trung Quốc đã và đang diễn ra.
Dấu hiệu của cuộc chiến này với Trung Quốc là sợ hỗ trợ để giữ vững một quốc gia Sudan thống nhất, trong khi đó với Mỹ (và đồng minh Israel) thì phải chia tách đất nước Sudan, tạo ra một Nam Sudan độc lập.
Trung Quốc đã đầu tư lớn vào Sudan và trở thành đối tác quan trọng của Sudan. Sudan có rất nhiều dầu mỏ, chỉ riêng dầu mỏ nước này cũng đáp ứng 10% nhu cầu của Trung Quốc, có ngày như năm 2008, Trung Quốc nhập trung bình 800.000 thùng/ngày. Sudan là nước duy nhất ở châu Phi mà Trung Quốc tiến hành khai thác dầu mỏ bằng chính công ty của mình rất thành công. Vì vậy, dứt khoát Trung Quốc phải bảo vệ chế độ Khartoum, tức một Sudan thống nhất mà có chính phủ thân với Trung Quốc và thực sự họ đã làm đủ mọi cách để hỗ trợ chế độ Hồi giáo Khartoum Sudan.
Phía Mỹ, Sudan cũng là vùng lợi ích chiến lược năng lượng quan trọng của mình. Do đó, để có được nguồn dầu mỏ quan trọng này, ngăn chặn Trung Quốc vào Nam Sudan, việc của Mỹ là vô hiệu hóa chế độ Hồi giáo Khartoum thân Trung Quốc. Trong khi đó, Israel cũng coi Sudan là rất nguy hiểm vì có khả năng hỗ trợ khủng bố. Bộ trưởng nội địa Israel tuyên bố: “Chúng tôi phải làm sao để cho Sudan không ổn định lâu dài, chúng tôi duy trì cuộc xung đột ở Nam Sudan để Sudan không thể trở thành một cường quốc vùng ảnh hưởng đến châu Phi và trong thế giới Ả rập”.
Rốt cuộc, bằng bộ máy tạo ra sức mạnh quân sự, kinh tế, Mỹ và đồng minh đã phá vỡ Sudan. Tháng 7/2011, Nam Sudan, quốc gia thứ 193 của thế giới ra đời do ông Salva Kiir làm tổng thống.
Sự chia tách Sudan là một đòn đau của Trung Quốc khi 20 tỷ USD đầu tư vào Sudan trước đó trở nên vô ích. Đau hơn nữa là 80% lượng dầu mỏ của Sudan lại nằm ở Nam Sudan, vùng ảnh hưởng của Mỹ.
Một lần nữa Trung Quốc buộc phải làm lại từ đầu. Chuyến thăm Trung Quốc vào năm 2012 của Tổng thống Salva Kiir của Nam Sudan đã đem về 8 tỷ USD cho dự án cơ sở hạ tầng và dầu lửa. Trung Quốc như cơn say khát dầu, tung tiền tiếp tục đầu tư lớn vào Nam Sudan mà bất chấp điều gì đang chờ phía trước.
Những tưởng rằng tương lai sẽ có kết quả tốt đẹp như 10 tháng đầu năm 2013 thì bất ngờ Nam Sudan xảy ra nội chiến giữa các phiến quân ủng hộ Riek Machar, người vẫn là phó tổng thống của nước này cho tới khi bị cách chức hồi tháng Bảy vừa rồi với chính phủ của tổng thống Kiir. “Oái ăm” thay, một số mỏ dầu lớn nhất mà Trung Quốc đang hoạt động lại nằm ở các vùng thuộc kiểm soát của phiến quân.
Không rõ có bàn tay của Mỹ hay của lực lượng nào, chỉ biết rằng sản lượng dầu đã giảm 20% kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột ba tuần trước và hơn 300 công nhân Trung Quốc đã phải đi sơ tán. Bắc Kinh như đang ngồi trên đống lửa. 
 “giận cá chém thớt”
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đi thăm 3 nước châu Phi để cùng với Mỹ “đánh hội đồng” Trung Quốc mà Trung Quốc không nổi đóa mới chuyện lạ, Trung Quốc chưa táng tên lửa đạn đạo, tên lửa hạt nhân vào Tokyo là kiềm chế lắm rồi, là may cho Nhật Bản lắm rồi.
Phải công nhận rằng Trung Quốc đã có tầm nhìn xa khi đầu tư đến vùng chiến lược quan trọng châu Phi và có lúc Châu Phi như là sân sau của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn khi quá tham lam, tàn bạo, thực hiện chính sách khai thác tài nguyên như kiểu “thực dân khai thác thuộc địa” khiến cho chính phủ và người dân bản xứ bức xúc, lên án.
Ngoại trưởng Mỹ bà H. Clinton trong chuyến thăm châu Phi tháng 6/2012 nói: “Chúng ta đã chứng kiến điều đó ở thời kỳ chủ nghĩa thuộc địa, khi các đế quốc dễ dàng đến, lấy đi nguồn khoáng sản tự nhiên, trả hậu cho các nhà lãnh đạo, rồi rời đi và khi họ bỏ đi, họ chẳng để lại gì nhiều cho người dân bản địa. Chúng tôi không muốn phải chứng kiến chủ nghĩa thực dân mới tại Châu Phi”.
Nói đâu xa, ngay tại ĐNA, Myanmar một thời là sân sau của Trung Quốc, nhưng chính hành xử theo kiểu “thực dân khai thác thuộc địa” của Trung Quốc đã buộc Myanmar đoạn tuyệt. Và gần đây nhất là Indonesia. Chính phủ và người dân bực tức vì Trung Quốc đến khai thác rồi chỉ mua khoáng sản thô đem về nước tinh chế đã buộc Tổng thống Indonesia quyết định nói “không” với xuất khẩu khoáng sản thô từ ngày 12/1/2014.
Rõ ràng là cũng không thể trách Trung Quốc chuyện này, vì để phát triển kinh tế thì ngay môi trường của chính quốc họ cũng sẵn sàng “phá” không tiếc cơ mà. Cho nên, chuyện “cướp, phá” ở châu Phi là bình thường.
Mỹ, trước đó và chuyến thăm châu Phi của Nhật Bản vừa rồi đã khai thác điểm yếu “thực dân mới” này của Trung Quốc để cạnh tranh với Trung Quốc về địa kinh tế cũng như địa chính trị tại châu Phi. Đương nhiên, châu Phi tin Mỹ, Nhật Bản hơn Trung Quốc vì chính sách đầu tư của Mỹ, Nhật Bản có trách nhiệm, có lợi, có sự quyến rũ hơn với chính phủ và người dân bản xứ.
Bởi vậy, Trung Quốc gay gắt chỉ trích, tố cáo Nhật Bản là kẻ “phá đám”, tố cáo Nhật Bản đang phục hồi chủ nghĩa quân phiệt, nhắc nhở tội ác năm xưa mà Nhật Bản đã gây ra để chính phủ các nước (họ quên lâu rồi) tránh xa Nhật Bản…là hợp với logic.
Điều thú vị là Mỹ, Nhật Bản vẫn tỏ ra lạnh lùng, tỉnh bơ, có vẻ như coi Trung Quốc la lối, cay cú, tức giận là chuyện đương nhiên và tỏ vẻ thích thú.

Việt Nam có câu: “Tham ăn thì dại ở” không biết có đúng với ai trên “sàn đấu” châu Phi?

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

NGƯỜI LÍNH NGỤY ẤY BÂY GIỜ CÒN SỐNG HAY KHÔNG?


Ông gì ơi! Còn sống không?
Nếu còn sống chắc người ấy không thể quên. Và biết đâu qua đây họ tìm thấy nhau…thì hạnh phúc biết chừng nào nhỉ. 
Đêm đó dưới vầng trăng nhạt, tổ trinh sát chúng tôi trên đường trở về. Chợt đâu đó, hòa trong tiếng côn trùng, có giọng người rên rỉ, tuyệt vọng. Anh Cầu tiểu đội trưởng ra hiệu cho tôi và cậu Duy, cẩn trọng. Chúng tôi lặng lẽ tiến tới, bên vạt rừng một người lính ngụy gục đầu trong vũng máu. Người lính mở to đôi mắt mờ đục, đầy đau đớn nhìn lên. Khi nhận thấy những chiến sĩ giải phóng, anh ta thều thào:
- Xin các ông làm phúc, cho tôi một phát đạn.
Tiểu đôi trưởng của chúng tôi quan sát người lính ngụy. Anh không nói gì, khẽ ngồi xuống, lấy bông băng, băng bó cho người bị thương. Rồi chúng tôi dìu người lính ngụy quay lại trận địa địch. Khi cách căn cứ địch một tầm bắn, tiếu đội trưởng khẽ đặt người lính bị thương nằm xuống, giọng anh nhẹ nhàng:
- Chúng tôi chỉ có thể đưa anh được tới đây, phía trước là người của các anh.
Anh Cầu cẩn trọng đặt khẩu A R15 vào tay người lính, xong khẽ nói:
- Anh đợi chúng tôi ra khỏi tầm hỏa lực của căn cứ rồi hãy nổ súng báo hiệu để người của anh ra đón.
Người lính ngụy nắm chặt tay tiểu đội trưởng, mắt nhòa lệ, thổn thức.
- Ôi! những con người nhân hậu thế này mà gọi là kẻ thù sao?
Chúng tôi trở về, đi rất xa mà vẫn không nghe tiếng súng. Anh lính ngụy muốn chúng tôi thật sự an toàn.
Trước khi về tới đơn vị, anh Cầu nghiêm nét mặt:
- Các cậu phải tuyệt đối giữ kín chuyện này. Lộ ra là tớ bị kỷ luật đấy.
(Lưu ý người kể không phải tôi, tôi-Ngọc Thống, không phải lính thời đó)

Lời bình: Đều là người Việt, người lính 2 chiến tuyến đều có các giá trị tình cảm, những xúc cảm như nhau, nhưng tại sao tâm hồn chiến sĩ của chúng ta mới đẹp làm sao trong khi đối phương thì quá tàn ác. Rõ ràng môi trường giáo dục, tuyên truyền, quyết định hành vi.