Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

VŨ KHÍ VÀ LỐI ĐÁNH VIỆT NAM – MỘT GÓC NHÌN GẦN


Vũ khí tạo ra lối đánh.
Lối đánh hay chiến thuật là hoạt động có tổ chức, tính khoa học của một lực lượng quân sự nào đó khi tham gia tác chiến trong chiến tranh.
Lối đánh phụ thuộc rất lớn vào vũ khí trang bị.
Ngày xưa vũ khí chính của người lính bất kỳ quốc gia nào chỉ là cung, kiếm và phương tiện chỉ là ngựa, thuyền (Vũ khí, phương tiện có thể gồm giáo mác và voi…nhưng cũng thuộc tính chất như VK, PT chiến tranh nêu trên). Chính vì thế nên nghệ thuật quân sự của Tôn Tử được coi như có một bản sắc chung cho các quốc gia.
Tuy nhiên, khi các quốc gia có nền khoa học phát triển kéo theo sự phát triển của vũ khí, phương tiện, trang bị quân sự (VKTB) thì trong tác chiến, hình thành rất nhiều chiến thuật khác nhau. Chẳng hạn như chiến thuật đổ bộ đường biển, đường không…và ngày nay thì xuất hiện nhiều chiến thuật mới bởi sự ra đời của máy bay tấn công không người lái, máy bay tàng hình, vũ khí lade…
Lối đánh phụ thuộc vào khu vực xảy ra tác chiến. Chẳng hạn, trong điều kiện khu vực tác chiến có địa hình không thuận lợi cho cơ động lực lượng trên bộ, trong khi đối phương thông thạo khu vực, cơ động nhanh hơn thì muốn thực hiện lối đánh vào đằng sau hay vào bên hông của đối phương là không thể. Nhưng khi có máy bay trực thăng thì lối đánh đó là có thể và chiến thuật trực thăng vận ra đời…Đó là ý nghĩa thực tế chứng minh cho mệnh đề “khi chiến thuật không thể thì công nghệ có thể” là vậy. Ngược lại, khi Việt Nam quá xa căn cứ máy bay B-52 Mỹ ở Utapao-Thái Lan mà không có máy bay, tên lửa nào tấn công vào được chỗ đó thì bằng lối đánh đặc công, vẫn có thể tiêu diệt được B-52 tại căn cứ này. Đó cũng là ý nghĩa thực tế chứng minh cho mệnh đề “khi công nghệ không thể thì chiến thuật có thể” là vậy.

Tàu ngầm làm thăng hoa lối đánh đặc công hay lối đánh đặc công là lối đánh nguy hiểm nhất mà tàu ngầm KILO Việt Nam có được?
Như vậy, có thể nói VKTB là cơ sở để tạo ra chiến thuật, hỗ trợ cho chiến thuật, làm thăng hoa chiến thuật, VKTB nào đều tương ứng với chiến thuật ấy. VKTB có trước, chiến thuật hình thành sau.
Vì thế, nói rằng “Mua sắm VKTB để phục vụ cho lối đánh Việt Nam”…không có nghĩa là lối đánh Việt Nam đó đã có từ thời Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt… để lại mà dựa trên cơ sở VKTB đã, đang và sẽ mua sắm, chế tạo, đồng thời dựa vào địa hình, địa vật của khu vực sẽ xảy ra tác chiến, lối đánh đó được nghiên cứu, xây dựng theo kiểu Việt Nam (tư tưởng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, tư chất người lính, kinh nghiệm chiến tranh…) để có được lối đánh Việt Nam.
Với nhiều lối đánh độc đáo, sử dụng VKTB hiện đại sáng tạo, trong tay Việt Nam khi VKTB hiện đại bao nhiêu thì lối đánh Việt Nam càng thăng hoa bấy nhiêu.
Đối đầu với tàu chiến địch có tầm bắn xa hơn.
Trong chiến tranh hiện đại VKCNC, khi so sánh lực lượng thì số lượng không thành vấn đề mà chất lượng mới là điều quan tâm hàng đầu. Chất lượng VKTB cao hơn, chẳng hạn như tầm bắn xa hơn, độ chính xác cao hơn, sức hủy diệt lớn hơn…thì bên sở hữu nó có rất nhiều ưu thế khi tác chiến.
Nếu như giả thiết rằng độ chính xác, uy lực của VKTB và… của 2 bên là ngang nhau (vì chúng ta chỉ tập trung vào tầm bắn), khi VKTB của đối phương có tầm bắn xa hơn, thì rõ ràng, đây là một ưu thế lớn trong tác chiến.
Trên Biển Đông, Việt Nam, so sánh về chất lượng tàu chiến với đối thủ tiềm tàng thì chỉ có thể coi như cơ động nhanh hơn mà thôi. Ngoài ra, chấm hết.
Bắn xa hơn có nghĩa là tên lửa bay xa hơn, radar dẫn bắn nhìn xa hơn, có nghĩa là anh chưa thấy người ta thì bị tiêu diệt rồi. Nguy hiểm như vậy đấy và được dễ dàng phô trương cho người ta thấy nhất, đó là “cửa” đầu hàng hé mở cho ai hèn nhát, tê liệt ý chí chiến đấu.
Còn nhớ năm xưa, khi đối đầu với Mỹ có VKTB vượt trội về mọi mặt, Bác Hồ tuyên bố: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay "Bê" gì đi chăng nữa thì ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng".
Lúc đó, mà bất luận thời nào cũng vậy thôi, che đậy sự hèn nhát của mình có người cho rằng “điếc không sợ súng” (ngôn ngữ mới là chém gió…) nhưng lời Bác là sự thật. Việt Nam thắng là bởi Bác và Bộ tham mưu Việt Nam đã có cơ sở (kế sách, lối đánh, bản lĩnh của dân tộc…) và đặc biệt người lính, người dân, dù chưa hiểu hết kế sách, lối đánh…nhưng tự tin, đặt trọn lòng tin và người chỉ huy, lãnh đạo quyết đánh, quyết thắng.
Ngày nay, trên Biển Đông, trước một kẻ địch có thực lực hùng hậu, VKTB hiện đại, Việt Nam dựa vào sự cơ động nhanh của tàu chiến hiện có, dựa vào địa lợi và sự hỗ trợ từ bờ…vẫn có nhiều lối đánh đủ sức đương đầu với ưu thế tầm bắn xa hơn của tàu chiến địch.
Những cơ sở sau đây để khẳng định điều đó:
Chiếm lĩnh vị trí xuất phát tấn công có lợi. Đó là vị trí mà chiến hạm của ta vận động tiếp cận mục tiêu đến tầm sử dụng hỏa lực với một thời gian ngắn nhất có thể (thời gian công kích).
Với việc sẵn sàng chiến đấu cao, quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ luôn là một yếu tố giành thắng lợi của quân đội và Hải quân Việt Nam, cho nên, ngay thời bình các đơn vị vẫn có những con tàu trực chiến tại những khu vực trực chiến.
Một con tàu khi trực chiến thì tên lửa đã vào bệ phóng, đạn dược đủ cơ số…và khu vực trực chiến đương nhiên, là nơi xuất phát tấn công có lợi nhất.
Khi SSCĐ được nâng cấp thì tùy theo, có thể có các lữ đoàn tàu, máy bay… vào trực chiến tại những khu vực trực chiến.
Biển của ta, trời của ta nên khu vực trực chiến dựa theo yêu cầu của chiến thuật, khu vực đó có thể là Trường Sa hay một nơi nào đó mà địch khó phát hiện…Như vậy, không có chuyện khi địch đã dàn đội hình tấn công, hoành hoành trên biển thì tàu chiến ta mới rời bến.
Tác chiến điện tử. Khi xung đột xảy ra, ta và địch đều hoạt động TCĐT, nghĩa là cả hai đều ra sức làm cho nhau “mù và điếc”.
Lúc đó, hệ thống chỉ thị, phát hiện mục tiêu của địch bằng radar trên tàu và vệ tinh quân sự dễ bị tổn thương hơn so với hệ thống chỉ thị, phát hiện mục tiêu quan trắc hiện đại chuyên sâu hơn trên bờ, đảo của ta. Điều đó có nghĩa là độ chính xác về mục tiêu mà hai bên thu nhận được thì địch sẽ không đáng tin cậy hơn, dẫn đến độ chính xác của tên lửa thấp buộc địch phải vào gần hơn hoặc ta có điều kiện vào gần địch hơn.
Lối đánh sở trường. Nếu như Việt Nam bị thất thế trong TCĐT thì dựa vào địa lợi, nghi binh, lừa địch, tập kích bằng nhiều lực lượng, nhiều hướng, liên tục cũng phát huy tác dụng.
Trên đây có thể coi là 3 giải pháp để hạn chế, triệt tiêu ưu thế tầm bắn xa của tàu chiến địch. Những nội dung cụ thể trong từng 3 giải pháp đó là một loạt bí ẩn mang tính bí mật quân sự mà những ai không có trách nhiệm chẳng cần phải quan tâm.
Cuối cùng là ý chí, bản lĩnh và trí tuệ người lính. Đây là yếu tố quyết định nhất.
Nếu như trong tầm hỏa lực của tàu mình, phóng tên lửa mà không diệt được mục tiêu, tàu đối phương vẫn né tránh tốt, băng băng lao tới thì bủn rủn tay chân, hoảng loạn là chỉ còn cách ôm phao cứu sinh. Ngược lại, khi biết tàu địch có tầm bắn xa hơn là hoang mang, không dám tiếp cận gần, tìm cách trốn chạy thì sớm muộn gì cũng bị tiêu diệt.
Bản lĩnh yếu là thiếu tự tin thì sự sáng tạo trong lối đánh bị triệt tiêu mà sáng tạo trong lối đánh hay vận dụng xử lý tình huống nhạy bén trong chiến đấu có tính quyết định thành bại của trận đánh. Điều này, chúng ta có quyền tin tưởng vào người lính của mình vì không phải nó chưa từng xảy ra.
Như vậy, vài ba tàu chiến được cho là hiện đại, tầm bắn xa…phô trương tập trận này nọ trên Biển Đông không khiến Việt Nam run sợ, hốt hoảng. Kế sách, lối đánh đã có sẵn, Việt Nam sẵn sàng chuẩn bị cho việc bảo vệ chủ quyền của mình với một tinh thần bình tĩnh, tự tin, ý chí quyết tâm cao và đầy trí não.

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

NHẬT BẢN ĐANG LÀM GÌ?

Tại Nhật Bản, trong buổi tọa đàm với các doanh nghiệp và giới học giả Nhật Bản tối hôm 26/4/2013, Thủ tướng Shinzo Abe đã bày tỏ mối lo ngại về việc Trung Quốc không ngừng bành trướng sức mạnh quân sự của mình và nói rằng: “Chỉ trong vòng 2 năm nữa thôi, tương quan sức mạnh quân sự Trung – Nhật sẽ bị phá vỡ triệt để”.
Nhiều người có thể quên câu nói của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe nhưng những người quan tâm đến thời cuộc thì không, vì đây là câu nói mang tính khẳng định về một vấn đề rất quan trọng sẽ xảy ra chứ không phải mang tính nhận định, câu nói của một người đứng đầu nước Nhật chứ không phải chuyện chơi.
Trung Quốc có câu “Vua không nói chơi” (quân vô hí ngôn), bởi vì lời nói của Vua mang tầm cỡ quốc gia hoặc liên quan đến sống, chết của một hay nhiều mạng người và phải được thực thi ngay lập tức. Điều gì sẽ xảy ra nếu những điều đó là “nói chơi”?. Hậu quả sẽ vô cùng tai hại, thảm khốc.
Nhưng đáng buồn là, tuy thế, người Trung Quốc thường “nói 10 mà làm chỉ được 1” và “làm được 1 mà nói thì 10”. Lịch sử cũng như hiện tại đã chứng minh rõ ràng đấy thôi…
Người Nhật Bản khác người Trung Quốc, họ “nói 1 nhưng làm 10” và “làm 10 nhưng nói chỉ 1”
Đương nhiên, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, một người Nhật chính thống thì… chắc tuyên bố của ông cũng thuộc loại “quân vô hý ngôn”. Có thể chính Trung Quốc hoặc chính Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của ông ta sẽ làm cho “tương quan quân sự Trung-Nhật bị phá vỡ triệt để”.
Vấn đề là lúc đó, lúc tương quan quân sự Trung-Nhật bị phá vỡ thì nó sẽ lệch về bên nào?
Ai trong Trung Quốc và Nhật Bản với thời gian 2 năm nữa có đủ khả năng để làm phá vỡ tương quan quân sự hiện tai?
Trong mắt dư luận và giới quan sát thì về vũ khí thông thường, Trung Quốc có bao nhiêu đã phô trương, khoe cơ bắp với bàn dân thiên hạ biết rồi nhưng mới chỉ vượt trội Nhật Bản về số lượng còn chất lượng thì ngược lại, Nhật Bản vượt trội. Và kể từ trước đó đến nay Nhật Bản đã hoàn thiện, phát triển hàng loạt vũ khí trang bị tiên tiến hiện đại như tàu ngầm, máy bay tuần tiễu chống ngầm, chiến hạm...với một tốc độ khiến Trung Quốc “ngỡ ngàng” và có chất lượng khiến Trung Quốc bi quan.
Tuy nhiên có 2 mục tiêu mà hiện tại Nhật Bản hoàn toàn không có “số liệu” để so sánh với Trung Quốc, đó là vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Do đó, khả năng gây ra sự “phá vỡ” này không đến từ Trung Quốc mà chỉ có thể đến từ Nhật Bản và có lẽ, vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo là một trong những mục tiêu “công phá” hàng đầu của Nhật Bản trong 2 năm tới.
Với Nhật Bản, sở hữu một nền khoa học kỹ thuật hiện đại vào loại nhất nhì thế giới thì sản xuất một loại vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, hay một tàu sân bay là không khó, chỉ cần trong một thời gian ngắn Nhật Bản có thể làm được. Nhưng, cực thay, Nhật Bản giống như một vị thần trong chuyện thần thoại “Nghìn lẻ một đêm” bị nhốt vào trong chiếc lọ đồng mà nút lọ có dấu ấn của đấng tiên tri Xalomong, con vua Davit ngăn cản. Cơ chế, chính sách mà cụ thể là điều 9 Hiến pháp Nhật Bản như là dấu ấn của Xalomong, đã trói tay, trói chân, không cho Nhật Bản làm điều đó.
Vấn đề là ai, tác động nào, làm cho cái “nút lọ đồng” đó mở ra?.
Rõ ràng là nhân tố Bắc Triều Tiên và tác động của nó không đủ làm “nút lọ” tự mở, nhưng chỉ khi nhân tố Trung Quốc xuất hiện từ năm 2010 với tác động mạnh từ Senkaku đã làm cho “nút lọ” bung ra.
Có lẽ đối với ngài Shinzo Abe, Senkaku là cái tên còn linh thiêng hơn đền Yasukuni. “Thần đảo” Senkaku đã đưa Ngài lên làm Thủ tướng bởi ngài thủ tướng tiền nhiệm quá nhút nhát trước Trung Quốc và chính sự cứng rắn, cương quyết bảo vệ Senkaku của Ngài và LDP mà lần đầu tiên từ 6 năm nay đảng cầm quyền của Ngài đã nắm quyền lưỡng viện Nhật Bản từ ngày 22/7.
Từ nay đến năm 2016, Nhật Bản không phải qua một cuộc bầu cử nào nữa, điều này có nghĩa là ông Abe được rộng tay thực hiện các ý tưởng của mình mà không gặp cản trở trên nghị trường.
Ngoài việc phục hồi nền kinh tế, Nhật Bản sẽ phải đối phó với các thách thức an ninh hiện hữu, đặc biệt là sự hung hăng của Trung Quốc trong lúc Mỹ tuy “xoay trục” sang châu Á-TBD nhưng ngân sách bị cắt giảm buộc Nhật Bản không thể tự tin dựa dẫm vào ô an ninh của Mỹ.
Dầu hiệu cho thấy Nhật Bản dưới thời ông Abe có 3 thay đổi lớn để “công phá”:
Một là sửa đổi nguyên tắc trong chính sách quốc phòng. Theo đó, Nhật Bản sẽ dựa vào nền kỹ thuật hiện đại của mình chế tạo tên lửa tầm trung, tên lửa đạn đạo để đáp trả và khi cần thiết có thể tấn công phủ đầu.
Như vậy, dù vấn đề sản xuất chế tạo VKHN do nhạy cảm, Nhật Bản không nói đến nhưng qua sự thay đổi này đã cho thấy trong tương lai gần Nhật Bản sẽ có thứ để so sánh với Trung Quốc, đó là tên lửa tầm xa mang yếu tố tấn công, yếu tố chỉ phòng thủ đã bị loại bỏ và lúc đó Trung Quốc sẽ không có cơ hội đem tên lửa đạn đạo ra để răn đe, dọa dẫm Nhật Bản.
Nhật Bản có làm được như họ nói không? Rất dễ dàng, bởi chúng ta đã thấy trước khi “nói 1” họ đã “làm được 10” rồi.
Ảnh
Trung Quốc “rúng động” khi Hải quân Nhật Bản nhận bàn giao chiếc tàu ngầm thứ 5 lớp Soryu kiểu AIP mà Trung Quốc chưa chế tạo được. Trước đó, tuyên bố của Nhật Bản đến năm 2015 sẽ trang bị 10 tàu ngầm kiểu loại AIP thì Trung Quốc coi thường cho là không tưởng. Nhật Bản “nói 1 nhưng làm 10”.
Hai là nới lỏng và tiến tới xóa bỏ việc xuất khẩu vũ khí. Trong nhiều thập kỷ Nhật Bản đã dành kinh phí tài chính khổng lồ để phát triển ngành công nghiệp quốc phòng của mình. Trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật trong lực lượng phòng vệ Nhật Bản đều từ các tổ hợp công nghiệp quốc phong trong nước cung cấp với chất lượng kỹ thuật tiên tiến hiện đại nhất nhì thế giới. Tuy nhiên do quy mô không lớn của một đội quân gọi là Lực lượng phòng vệ Nhật Bản nên giá thành của vũ khí do Nhật Bản chế tạo bị đội lên cao hơn với các thứ cùng loại. Vì vậy, nếu xuất khẩu được vũ khí ra bên ngoài thì dây chuyền công nghệ sẽ phát huy hết công suất, sản phẩm nhiều, giá thành hạ và với kinh nghiệm, kỹ thuật hiện đại nổi tiếng, có uy tính thì “hàng” vũ khí Nhật Bản sẽ “đắt như tôm tươi”. Đương nhiên, các tổ hợp CNQP Nhật Bản sẽ là đối thủ cạnh tranh lớn của Nga, Mỹ…mà không sợ khách hàng cho là “nhái” như CNQP của Trung Quốc.
Khi một nền CNQP phát triển thì hưởng lợi và ưu tiên đầu tiên, tất nhiên là quân đội của mình. Quân đội sức mạnh sẽ có tất cả và không khó để đánh giá sức mạnh của quân đội Nhật Bản trong bối cảnh đó là ra sao.
Ba là, song hành với 2 điều trên Nhật Bản sẽ xây dựng Lực lượng phòng vệ Nhật Bản thành một quân đội chính quy, hiện đại có đủ mọi chức năng như quân đội các quốc gia khác. Đó là bước đi cuối khi thay đổi điều 9 Hiến pháp hòa bình mà bị Mỹ ép buộc soạn thảo.
Lực lượng phòng vệ Nhật Bản với biên chế 280 nghìn binh sỹ, 740 xe tăng, 355 máy bay chiến đấu và 48 tàu chiến các loại. Mỗi năm, lực lượng phòng vệ Nhật Bản được đầu tư gần 60 tỷ USD, đứng thứ 5 thế giới. Tuy nhiên, lực lượng này lại không được phép tham chiến, tấn công.
Đây là điều hết sức vô lý nhưng xem ra, trước đây, lại có lý vì Nhật Bản được Mỹ bảo hộ trong cái ô an ninh của mình thì không cần phải tham chiến, tấn công…Nhưng, “nhờ” Trung Quốc trỗi dậy, còn Mỹ thì suy giảm nội lực buộc phải tăng cường sử dụng ngày càng nhiều hơn sức mạnh của các đồng minh để thực thi chính sách khu vực của Mỹ …đã làm cho cái vô lý này trở nên gay gắt không thể chịu nổi với Nhật Bản.
Hiện nay, với Nhật Bản, khi đảng cầm quyền LDP đã chiếm đa số ở Hạ viện và Thượng viện, khi đa số tầng lớp thanh niên được hỏi đều nhất trí phải thay đổi Hiến pháp, khi Mỹ đã có sự chia xẻ…thì không phải là có thể thay đổi điều 9 HP được không mà vấn đề là lúc nào.
Có thể nói 3 thay đổi lớn này tuy bây giờ có điều kiện để tiến hành thực hiện, nhưng dễ nhận thấy, đây chỉ là những điều kiện thuộc cơ chế, chính sách chứ không phải điều kiện kỹ thuật. Với Nhật Bản, những điều kiện kỹ thuật cho sự thay đổi này thực ra đã được tạo lập tích hợp trong chặng dài nhiều thập niên nay rồi.
Bộ trưởng quốc phòng Nhật Itsunori Onodera khi tuyên bố: ”Trong quá khứ, Nhật Bản đã gây ra tổn thất và đau khổ triền miên cho dân chúng nhiều nước, nhất là các nước châu Á. Các chính phủ Nhật liên tiếp đã khiêm tốn thừa nhận các dữ kiện lịch sử đó và tỏ lòng hối hận sâu sắc và xin lỗi chân thành, chính phủ Abe cũng thế...”. Nhật Bản đã “xin lỗi đủ” và đã đến lúc “ngẩng cao đầu”.
Không hồ nghi gì nữa, Nhật Bản có đầy đủ mọi khả năng kỹ thuật và kinh tế để trở thành một cường quốc quân sự hùng mạnh bậc nhất trong vòng vài năm tới. Tuyên bố của Thủ tướng Nhật Bản ông Shizo Abe chắc chắn không sai. Quân vô hý ngôn.
ngocthong19.5@gmail.com

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

TRUNG-NHẬT ĐÊM TRƯỚC CỦA CUỘC CHIẾN VÌ AN NINH HÀNG HẢI


Hàng hải là tuyến đường biển để cho tàu thuyền của các quốc gia có biển đi lại, giao thương. Trên thế giới có nhiều quốc gia nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến hàng hải. Bởi vậy, bảo vệ an toàn cho tàu thuyền của mình qua lại, thông thương trên tuyến hàng hải này là chiến lược cực kỳ quan trọng nếu như không muốn quốc gia lệ thuộc vào ai.
Nếu như trước đây khi chưa phát triển mạnh, Trung Quốc không những tự tự túc được nguồn năng lượng mà còn xuất khẩu sang láng giềng thì đến năm 1993 sau khi đẩy mạnh sản xuất và hoạt động ngoại thương, Trung Quốc đã từ nhóm nước cung cấp nguồn năng lượng sang nhóm nước nhập khẩu dầu mỏ. Từ năm 2003, Trung Quốc đứng thứ hai thế giới trong nhóm nước này, chỉ sau Mỹ.
Điều đáng lưu tâm là kể cả ngoại thương, Trung Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào đường biển chẳng khác nào như một đảo quốc.
Nhật Bản thì tệ hơn Trung Quốc nhiều, nền kinh tế không những phụ thuộc vào năng lượng dầu mỏ mà cả nguyên vật liệu công nghiệp. Và tất nhiên, Nhật Bản là một đảo quốc thật sự không cần bàn cãi.
Con đường biển chủ yếu mà Trung Quốc giao thương (Trung Quốc gọi là “Liên Châu” hay “Chuỗi ngọc trai”) là tuyến chạy qua vịnh Persique, Ấn Độ Dương, eo biển Malacca và Biển Đông.
Nhật Bản, giao thương cũng không ngoài tuyến hàng hải đó.
Riêng trên biển Đông, có hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển thì 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama.
Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (Malacca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar). Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz).
Nếu như Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông thì hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản cũng được vận chuyển qua Biển Đông…
Nói sơ sơ như vậy cũng đủ để chứng tỏ một điều: Trung Quốc và Nhật Bản đều có tuyến hàng hải trùng nhau, đồng thời tuyến hàng hải cũng là con đường quyết định sự sống còn của 2 nền kinh tế. Cho nên, nếu Trung Quốc hoặc Nhật Bản khống chế được tuyến hàng hải này thì ít nhất sẽ có sự lệ thuộc vào nhau.
Điều đáng nói là từ trước đến nay Trung, Nhật chưa ai khống chế được tuyến hàng hải quan trọng này. Việc bảo vệ an toàn hàng hải trên tuyến này là Hải quân Mỹ.
Nhật Bản dựa vào sự bảo trợ của quân đội Mỹ để giải quyết các vấn đề an ninh cho hoạt động vận chuyển hàng hóa đường biển của mình. Dĩ nhiên, để đổi lấy sự bảo trợ đó, thì Nhật buộc phải nhượng bộ Mỹ cả trong lĩnh vực chính trị lẫn kinh tế hay không thì không rõ, nhưng dù sao, Mỹ-Nhật là đồng minh chiến lược với nhau nên vấn đề không đến mức nhức nhối để Mỹ phải sử dụng miếng đánh hiểm này.
Còn Trung Quốc, cũng vậy thôi, một cái thòng lọng sẵn sàng thít vào cổ bất cứ lúc nào Mỹ cho là cần thiết.
Để cắt bỏ sợi dây thòng lọng này, ngoài việc tuyên bố hơn 80% diện tích biển Đông là của mình, Trung Quốc buộc phải thành lập rất nhiều nhóm tàu sân bay để bảo vệ tuyến hàng hải dài, để giành quyền kiểm soát hoạt động nhập khẩu dầu mỏ bằng đường biển khi có vấn đề xảy ra. Nhưng như vậy có nghĩa là thách thức Mỹ, chắc chắn đối đầu với Mỹ mà trước hết kẻ bị ảnh hưởng, tổn thương, bị uy hiếp nhiều nhất là không ai ngoài Nhật Bản.
Giả sử Trung Quốc kiểm soát được tuyến hàng hải này, đương nhiên, cũng như Mỹ hiện tại vẫn ra rả tuyên bố “tự do hàng hải” nhưng khi Trung Nhật căng thẳng hay xảy ra xung đột thì khóa chặt tuyến hàng hải này là điều tất yếu, xin đừng hỏi tại sao. Và hậu quả như nào thì Nhật Bản quá hiểu.
Ngược lại nếu như Nhật Bản và Mỹ cùng khống chế tuyến hàng hải này thì Trung Quốc chưa thể “thích gì làm nấy” được.
Sự trở lại châu Á-TBD của Mỹ là để kiềm chế Trung Quốc nhưng với một sách lược không “bao cấp” mà buộc đồng minh chia xẻ trách nhiệm.
Mỹ không bảo vệ lợi ích quốc gia khác bằng lính Mỹ ngoại trừ của chính mình. Chính vì thế, Mỹ yêu cầu Nhật Bản phải có trách nhiệm cao hơn.
Nhật Bản là quốc đảo, nếu Trung Quốc như đã phân tích trên cũng như là quốc đảo thì tuyến hàng hải huyết mạch được coi như cung cấp máu cho tim hoặc đây là tuyến đường mà bắt buộc phải đi qua để uống. Nhịn ăn có thể 7 ngày, nhưng nhịn uống thì không được như vậy, ít ngày lắm.
An ninh hàng hải với Nhật Bản là sự sống còn của nền kinh tế, do đó cũng là sự sống còn của an ninh quốc gia. Nhật Bản buộc phải cứng rắn, không nhân nhượng và làm tất cả những gì có thể để bảo vệ an ninh quốc gia.
Chẳng có gì khó hiểu khi Nhật thân thiện với Nga, Hàn Quốc (và Mỹ thì khỏi phải bàn), chẳng có gì khó hiểu khi Nhật Bản tăng cường quan hệ với ASEAN đặc biệt là Philipines, Việt Nam…
Rốt cuộc, sự đụng độ trên khu vực châu Á-TBD, nói cách khác Nhật Bản là nước mà Trung Quốc phải đối đầu nếu muốn “vượt qua vòng loại”, là đối tượng tác chiến trực tiếp của nhau.
Làm sao gọi là một cường quốc biển khi mà không đủ sức bảo vệ thông thương trên các tuyến hàng hải của mình. Nhưng để khống chế, kiểm soát tuyến hàng hải “Liên Châu”, Trung Quốc phải làm rất nhiều việc mà có rất nhiều láng giềng không thích và chống phá, đặc biệt là Nhật Bản.
Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư chỉ là đêm trước của một cuộc chiến vì an ninh hàng hải quyết liệt sắp xảy ra.
ngocthong19.5@gmail.com

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

BẺ GÃY ĐÒN TẤN CÔNG BẰNG TÊN LỬA, MÁY BAY TÀNG HÌNH ĐỊCH, BẢO VỆ TRƯỜNG SA


Bờ có vững thì đảo mới yên. Trường Sa của Việt Nam khác với Manvinas, Trường Sa là máu thịt của Việt Nam, khi Trường Sa bị xâm chiếm thì chỉ khi không còn một “tấc sắt trong tay”, đất liền Việt Nam mới nghiến răng, nén căm hận vào tim chờ đến lúc rửa hận, còn khi dù chỉ có một “tấc sắt trong tay” thì Việt Nam quyết không chịu để yên.
Nguyên lý đó, tâm lý này của người Việt, dân tộc Việt, kẻ địch quá hiểu, cho nên, chỉ đụng vào Trường Sa, giải quyết “êm gọn” trong tình thế Việt Nam đã và đang chuẩn bị rất bài bản (vũ khí trang bị, chiến thuật, bố trí lực lượng) là hoang tưởng.
Chính vì thế, muốn chiếm được Trường Sa thì địch phải phong tỏa, hủy diệt đất liền. Đó là một cuộc chiến tranh với Việt Nam sẽ xảy ra mà phương thức không nằm ngoài kiểu cách của Mỹ-NATO đã từng sử dụng với I-Rắc, Libi, Nam Tư ở các cuộc chiến tranh gần đây.
Nếu như xác định rằng, trong chiến tranh hiện đại với VKCNC thì tên lửa tầm xa, tầm trung đóng vai trò quan trọng trên chiến trường thì tác chiến điện tử đóng vai trò quyết định sự thành bại. Đây chính là nguyên tắc, phương châm, tư tưởng, quan điểm, bảo vệ Tổ quốc nói chung và Trường Sa nói riêng trong tình hình hiện nay.
Đương nhiên, sẽ có nhiều sách lược, biện pháp, hoạt động tác chiến khác để đối phó tấn công địch, nhưng điều chúng ta quan tâm ở đây là tác chiến điện tử, hoạt động quan trọng quyết định thành bại của cuộc chiến này như thế nào và ra sao mà thôi.
Thực ra, tác chiến điện tử là một nhiệm vụ thường xuyên của bất kỳ một đơn vị nào trong thời bình cũng như trong chiến tranh của QĐND Việt Nam ngay cả khi chưa có Cục tác chiến điện tử-Bộ TTM.
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, hơn ai hết Việt Nam đã quá hiểu vai trò lợi hại và cái giá phải trả khi hoạt động tác chiến điện tử của Mỹ khi có nền khoa học công nghệ vượt trội, và năm ấy, 1972, điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam không bắn rơi được B-52 Mỹ?
Trong chiến tranh VKCNC, tác chiến điện tử tốt sẽ làm cho vũ khí công nghệ cao (VKCNC) của quân địch thành kẻ “mù và ngu dốt”, hạn chế sức hủy diệt của chúng. Tác chiến điện tử tốt giúp cho hải quân, không quân có điều kiện tiếp cận mục tiêu, phát hiện mục tiêu để phản công bằng lối đánh sở trường hay đối kháng.
Vấn đề là tác chiến điện tử để bẻ gãy đòn tần công bằng tên lửa tầm xa, tầm trung hiện đại của địch, bảo vệ Trường Sa như thế nào.
Trước hết là trinh sát phát hiện mục tiêu, hành động của địch, quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ.
Chuẩn bị một cuộc tấn công trong chiến tranh hiện đại không dễ dàng, nhanh gọn như lấy đồ chơi trong túi. Phát hiện ra âm mưu, ý đồ của địch để tổ chức, bố trí, cơ động lực lượng đến vị trí xuất phát tấn công có lợi. Đây cũng là chiêu hạn chế ưu thế tầm bắn xa của chiến hạm địch.
Mục tiêu cố định như sân bay, bến cảng…dễ bị đánh phá nhất, đều bị địch xác định tọa độ chính xác cho tên lửa, bom thông minh. Vì vậy phải làm mù các thiết bị định vị mục tiêu của địch, buộc địch phải tác chiến ở tầm gần, tạo điều kiện cho lực lượng phòng thủ phát huy hỏa lực. Trong đó, ngụy trang và gây nhiễu là hai biện pháp chính để đối phó với sự định vị và dẫn đường cho tên lửa của hệ thống định vị toàn cầu.
Rõ ràng là với sự phát triển của vệ tinh quân sự hiện nay thì một cái kim ngọn cỏ trên mặt đất vẫn bị phát hiện. Tuy nhiên bản thân hệ thống này không có khả năng nhận biết đâu là thật là giả, nó dể dàng bị đánh lừa bởi các biện pháp ngụy trang. Sương mù, khói, thời tiết xấu, các thiết bị điện tử làm nhiễu tín hiệu khiến cho việc xác định tọa độ cũng như dẫn đường cho tên lửa trở nên kém chính xác, cho nên tên lửa “thông minh” giá hàng đống tiền của địch bay vào mục tiêu giả mà “thật hơn cả thật”, bởi khả năng cơ động, tính năng điện từ, tính năng nhiệt còn “bắt mắt” hơn đồ thật là điều dễ xảy ra. Bộ đội ta trên đường Trường Sơn đã từng “lái” không quân Mỹ đổ hàng vạn tấn bom vào chỗ không người theo phương cách đó.
Trong chiến tranh hiện đại, thiết bị gây nhiễu tích cực, định hướng có thể được coi như một vũ khí nguy hiểm của những nước có nền kinh tế thấp do giá thành rẻ, thời gian nghiên cứu chế tạo nhanh nhưng có uy lực rất mạnh đối với các thiết bị điện tử có điều khiển. Hệ thống gây nhiễu hiện đại SPN-30 của Việt Nam có khả năng không chỉ gây nhiều GPS mà có thể gây nhiẽu tất cả các thiết bị điện tử trong khu vực bảo vệ mục tiêu. Nếu như Viettel đã tìm ra vị trí phù hợp trên bờ biển để đặt trạm phát sóng, phủ gần như toàn bộ vùng biển Việt Nam với bán kính cách bờ 100km, điều mà chỉ có trên lý thuyết chứ chưa có công ty nào trên thế giới làm được, thì với Cục tác chiến điện tử, vấn đề còn lại chỉ là chiến thuật.
Vô hiệu hóa đòn tấn công bằng các loại tên lửa chống bức xạ hay tên lửa chống radar của địch hòng làm mù hệ thống radar, chỉ dẫn mục tiêu của ta bằng cách di chuyển liên tục của các đài phát sóng và sự lẫn lộn giữa các đài giả và đài thật trong một hệ thống mạng nội bộ của các đài radar ở nhiệu cụm tác chiến, nhiều vị trí khác nhau trên một khu vực tác chiến rộng lớn sẽ làm suy giảm rõ rệt khả năng tấn công của tên lửa chống bức xạ.
Sử dụng phương pháp phát hiện mục tiêu thụ động, không chủ động phát sóng radar mà sử dụng các thiết bị thu sóng điện từ để theo dõi sự di chuyển của đối phương (Radar VERA cùng với Kolchuga của Việt Nam) và bằng phương pháp giao hội (3 phương vị) là “tóm gọn” dễ dàng máy bay tàng hình (máy bay tàng hình nhìn thấy nó khó khăn bao nhiêu thì khi nhìn thấy diệt nó dễ dàng bấy nhiêu), đồng thời định vị các mục tiêu trên không trên biển, tạo điều kiện cho radar điều khiển tên lửa (radar ngắm bắn) chỉ mở khi có thông số xác định về mục tiêu…vân vân và vân vân.
Tác chiến điện tử không những là sự đối đầu về kỹ thuật mà còn là sự đối đầu về chiến thuật, khí tài hiện đại là điều cần thiết, nhưng con người vận hành nó còn quan trọng hơn nhiều. Đó là sự kết hợp giữa ý chí sức mạnh của con người, sự thông minh sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ hoàn hảo các trang thiết bị đang khai thác sử dụng trong thực hiện nhiệm vụ. Con người vẫn là nhân tố quyết định cho mọi sự thành bại trên chiến trường.
Con người Việt Nam, khả năng Việt Nam nếu kẻ thù đụng đến Trường Sa thì nhất định sẽ trả giá đắt.
ngocthong19.5@gmail.com

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

TRONG TÌNH THẾ HIỆN NAY, ĐỊCH SẼ TẤN CÔNG TRƯỜNG SA BẰNG CÁCH NÀO?


Chẳng ai muốn chiến tranh, xung đột, nhưng hòa bình không thể quyết đinh được một phía từ Việt Nam.
Với Việt Nam, Biển Đông là Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Trung Quốc đã đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và đánh chiếm một phần Trường Sa năm 1988, vì vậy, trong tình hình hiện nay, bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng cho rằng những thách thức đến an ninh Trường Sa là hiện thực tiềm ẩn là logic không thể khác được.
Nếu địch sử dụng phương án tấn công đánh chiếm Trường Sa như nước Anh đã từng sử dụng đánh chiếm quần đảo Manvinas, tức là chiến dịch tấn công sẽ huy động nhiều lực lượng bao gồm tàu chiến, tàu vận tải đổ bộ, tàu ngầm, tàu sân bay, tàu phục vụ… hình thành nhiều thê đội trong đội hình tấn công với 2 nhiệm vụ chính là bảo vệ đội hình trước đòn tấn công của đối phương và lực lượng dọn bãi đổ bộ, đổ bộ đánh chiếm các đảo.
Có thể nói, địch rất muốn thực hiện theo phương án này vì nó có rất nhiều cái lợi.
Trước hết là nó rất phù hợp với một lực lượng hải quân mạnh, khả năng răn đe lớn, tấn công tầm xa tốt, cho nên bảo vệ được đội hình tấn công chính, bao vây, chia cắt, cô lập được mục tiêu để tiêu diệt.
Tiếp theo là khu vực tác chiến của phương án này có phạm vi nhỏ, bao gồm vùng trời, vùng biển quanh Trường Sa, cho nên, tính chất cuộc chiến, do đó, được xem như là một cuộc xung đột trên biển và đặc biệt sự xung đột này không lan rộng thành một cuộc chiến tranh lớn khó kiểm soát.
Sau cùng là thời gian tác chiến nhanh, nếu thắng lợi thì tạo ra một “sự đã rồi”, dư luận, thế giới tố cáo thì đã muộn.
Tuy nhiên, muốn là một chuyện, được hay không lại là chuyện khác. Thực tế từ tình thế khu vực, tương quan lực lượng, ý chí quyết tâm…của 2 bên không giống như tình hình mà nước Anh tiến hành chiến dịch đáng chiếm quần đảo Manvinas.
Trường Sa là chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam mà việc bảo vệ chủ quyền, chống xâm lược của dân tộc Việt bao đời nay đều có ý chí quyết tâm cao hơn núi.
Lực lượng địch chưa có khả năng và đủ mạnh để thách thức toàn bộ lực lượng phòng thủ biển từ đất liền của Việt Nam bao gồm không quân, hải quân pháo, tên lửa bờ… được tự do lựa chọn phương án tấn công. Huống chi, trong khi phương án đó còn quá nhiều lỗ hổng về chiến thuật, những tử huyệt “bất khả kháng” do không có địa lợi.
Không phải cứ tàu chiến địch có tầm bắn xa là không có con tàu nào của Việt Nam vào được gần…Chiến tranh không đơn giản chỉ là phép cộng trừ số học, nó có những nghịch lý riêng. Kiếm dài, kiếm ngắn không quan trọng, quan trọng là kiếm pháp.
Rất tiếc, chúng ta có thể không biết, nhưng địch thì biết Việt Nam có bao nhiêu loại tên lửa vươn tới Trường Sa và những chiến hạm nào của Việt Nam mà tên lửa chưa thể vươn tới Trường Sa thì dựa vào chiến thuật độc đáo, Việt Nam đều biến nó thành có thể…
Chúng ta không biết, nhưng trên bản đồ tác chiến của địch thì không thể thiếu ký hiệu những bãi thủy lôi xung quanh Trường Sa đang và sẽ hình thành chờ đón, sẵn sàng kích hoạt mà những tàu siêu đổ bộ bằng sắt cũng chần chừ huống chi loại tàu đổ bộ đệm khí…
Rốt cuộc, ý chí Việt Nam, khả năng Việt Nam khiến cho Bộ Tham mưu địch không thể chủ quan, bất chấp, như những học giả quá khích, những viên tướng hiếu chiến đã về hưu hô hào…mà liều lĩnh sử dụng phương án trên.
Sử dụng phương án này chẳng khác nào một đội bóng cậy hàng phòng thủ mạnh, thủ môn giỏi lui về phòng thủ ở vòng 16m50, nhường sân cho một đối thủ đang hừng hực ý chí quyết tâm với một tinh thần không còn gì để mất thì thủng lưới là vấn đề thời gian.
Chính vì lẽ đó, đánh chiếm Trường Sa chỉ có thể thực hiện theo phương án khác, đó là, dùng tên lửa tầm xa, tầm trung từ tàu ngầm, khu trục tấn công vào đất liền nơi sân bay, hải cảng khu vực miền Trung Việt Nam làm tê liệt hoạt động của Hải quân, không quân Việt Nam, cắt đứt sự chi viện của đất liền cho Trường Sa. Đòn tấn công này trước hoặc cùng lúc với chiến dịch tấn công đánh chiếm Trường Sa.
Phương án này về mặt quân sự có tính khả thi cao, nhưng có những hệ lụy, “phản ứng phụ” không thuận lợi, nguy hiểm.
Đó là nó biến cuộc tấn công đánh chiếm Trường Sa thành một cuộc chiến tranh không thể kiểm soát. Phạm vi chiến trường lan rộng không giới hạn, ảnh hưởng nghiêm trọng không những đến tình hình kinh tế, an ninh của 2 quốc gia đối đầu mà còn cả khu vực và thế giới.
Về mặt chính trị, phương án này đã lộ rõ tính phi nghĩa của địch làm cho thế giới lên án, cô lập và ủng hộ mạnh mẽ cho Việt Nam về chính trị và có thể không loại trừ quân sự (vũ khí trang bị).
Những hệ lụy này gắn chặt với khả năng đương đầu của Việt Nam. Nếu Việt Nam bị đánh quỵ ngay từ loạt đạn đầu hay mất khả năng chiến đấu, giáng trả trước đòn tấn công của địch thì những hệ lụy này cũng biến mất, nhưng nếu Việt Nam đủ sức đương đầu, buộc địch phải trả giá thì những hệ lụy này càng bộ lộ và sẽ là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự thảm bại của phương án.
Như vậy, trong tình hình hiện nay, với ý chí và lực lượng hiện tại của Việt Nam thì tấn công đánh chiếm Trường Sa như phương án đầu là không khả thi, bởi nó chỉ giải quyết được phần ngọn, trong khi chiến dịch sẽ kéo dài, hao người tốn của khiến cho địch sẽ không chịu đựng nổi. Và, phương án sau là sự lựa chọn duy nhất để đạt được mục tiêu chiến dịch (quân sự).
Bảo vệ Trường Sa, trước hết là bảo vệ các căn cứ không quân, hải quân, hệ thống chỉ huy, quan sát, TTLL trước đòn tấn công phủ đầu của địch, tổ chức phản công giáng trả kịp thời buộc địch phải trả giá, trong đó vấn đề đầu tiên là Việt Nam phải bẻ gãy được đòn tấn công bằng tên lửa tầm xa, tầm trung hiện đại, độ chính xác cao, sức hủy diệt lớn của địch từ tàu ngầm, tàu khu trục, máy bay tàng hình ở ngoài tầm bắn của các phương tiện phòng thủ biển Việt Nam.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

THẦY ƠI, GIỜ THẦY ĐANG Ở ĐÂU?


Năm đó em mới là thằng thượng sỹ, còn thầy là trung tá, tiến sỹ phòng thủ biển đầu tiên của Hải quân Việt Nam. Thầy Tuyên người Thái Bình.
Năm sau chính thầy là người hướng dẫn em làm đồ án tốt nghiệp. Em nhớ như in lúc bảo vệ. Thấy em run run cầm cái thước thầy nhắc nhở: Em là người đầu tiên trong lớp bảo vệ nên phải bình tĩnh. Đây không phải là thi mà đang xử lý tình huống chiến đấu”…
Đã mấy mươi năm rồi thầy còn không và ở đâu, Ông tiến sỹ học ở Nga về phòng thủ biển đầu tiên của HQVN? Còn em thì cũng chẳng đâu vào đâu nhưng Em nhớ thầy.

TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ - SỰ THÀNH BẠI CỦA CHIẾN TRANH VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO



Quy luật khắc nghiệt của chiến tranh là mạnh được yếu thua. Trước tình hình căng thẳng ngày một căng thẳng trên Biển Đông, Hoa Đông giữa Trung Quốc, Nhật Bản, Philipines, Việt Nam…cùng với sự can dự của Mỹ thì nguy cơ của chiến tranh là không thể không bàn đến.
Dư luận, báo chí lại tốn không ít lời và giấy mực để bình luận, so sánh sức mạnh quân sự của từng bên đối địch…Tuy nhiên, sự đánh giá đều thiếu độ chính xác hoặc chỉ là phép cộng trừ số học khi chỉ căn cứ vào tính năng kỹ chiến thuật của vũ khí trang bị mà đôi bên hiện có, bởi lẽ, có một khả năng quyết định sự thắng, thua của chiến tranh hiện đại bằng vũ khí công nghệ cao (VKCNC) thì không ai có thể nắm biết được. Đó là khả năng tác chiến điện tử của từng bên tham chiến.
Tác chiến điện tử hiện nay đang được nâng lên thành thuật ngữ “Chiến tranh phi tiếp xúc”. Khái niệm này được hiểu như một cuộc chiến tranh không tuyên bố, một lực lượng tác chiến có thể tấn công nhiều đối phương trong cùng một thời điểm, hoặc nhiều đối tượng cùng tấn công một đối phương trong nhiều tầng không gian chiến tranh, gây tổn thất nặng nề cho đối phương trước khi cuộc xung đột xảy ra cụ thể.
Tác chiến điện tử diễn ra với mức độ cao, tinh vi, cường độ lớn, loại hình tác chiến điện tử đa dạng. Tác chiến điện tử diễn ra trong cả thời bình và thời chiến, nó phục vụ cho mục đích cơ bản ban đầu là chiếm ưu thế trong hệ thống kinh tế thương mai toàn cầu, đạt được những mục đích chính trị trong các hoạt động đối nội, đối ngoại và cuối cùng là giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh phi hạt nhân nếu tiến hành.
Tác chiến điện tử trong phạm vi quân sự thực chất là làm chủ, khống chế làn sóng điện từ, gây nhiễu loạn toàn bộ hệ thống chỉ huy, TTLL, quan sát của địch, qua đó làm cho VKCNC của đối phương trở thành “mù, điếc và ngu dốt”, bảo vệ được ta.
Với Việt Nam, chúng ta chẳng xa lạ và ngỡ ngàng gì về vai trò, vị trí của tác chiến điện tử trong chiến tranh bởi thực ra Việt Nam và Mỹ đã từng đối đầu trong cuộc chiến tranh điện tử quy mô lớn nhất từ trước đến nay với 2 dấu ấn còn để lại, đó là “hàng rào điện tử Macnamara” và chiến dịch tập kích đường không của Mỹ 12 ngày đêm vào Hà Nội.
Sự ra đời của Cục tác chiến điện tử-Bộ tổng tham mưu QĐND Việt Nam và mới đây ngày 03/7/2013 đã thành lập Lữ đoàn tác chiến điện tử 87 trực thuộc Cục tác chiến điện tử là một sự thay đổi về lượng để chuyển biến về chất, đưa hoạt động tác chiến điện tử của quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, tinh nhuệ và thiện chiến trên cơ sở những kinh nghiệm chiến tranh, những bài học quý hiếm chỉ có được từ xương máu của thế hệ ông cha để lại… đã chứng tỏ sự trưởng thành của QĐND Việt Nam và tầm nhìn chiến lược của Hà Nội.
Tác chiến điện tử với 3 nhiệm vụ chủ yếu gồm: Trinh sát điện tử, bảo vệ hệ thống điện tử và chế áp hệ thống điện tử.
Trinh sát điện tử: Dùng các phương tiện điện tử để trinh sát quân sự với 6 hình thức, đó là: trinh sát vô tuyến điện; trinh sát vô tuyến truyền hình; trinh sát ảnh nhiệt - hồng ngoại; trinh sát radar; trinh sát âm thanh; trinh sát thủy âm, được tiến hành từ trên không bằng máy bay, trên vũ trụ bằng vệ tinh, trên mặt đất, trên biển bằng hệ thống radar, quan trắc, tàu thuyền và trong lòng biển bằng các phao thủy âm, radar sona…
Bảo vệ hệ thống điện tử: Là toàn bộ các hoạt động làm cho các phương tiện điện tử của ta làm việc an toàn, ổn định, trước sự gây nhiễu và đánh phá của địch, chống trinh sát điện tử của địch.
Chế áp điện tử: Là toàn bộ các biện pháp và hoạt động làm tê liệt hoặc hạn chế hiệu quả sử dụng các phương tiện điện tử của đối phương. Gồm 2 hình thức tiến hành là chế áp cứng và chế áp mềm.
Chế áp cứng là phá huỷ một phần hoặc hoàn toàn phương tiện điện tử bằng hỏa lực, bằng xung lực hoặc các năng lượng khác.
Chế áp mềm là sử dụng năng lượng điện từ trường phát xạ hoặc phản xạ lại, đánh lừa điện tử để ngăn cản, loại trừ hoặc làm giảm hiệu quả hoạt động các phương tiện điện tử của đối phương với các biện pháp như gây nhiễu, tao mục tiêu giả…

Hệ thống gây nhiễu hiện đại SPN-30 của Lữ đoàn tác chiến điện tử 87-Cục tác chiến điện tử-Bộ tổng TM QĐND Việt Nam

Có thể nói, tác chiến điện tử trong chiến tranh hiện đại là bài toán khó đối với những nước có nền khoa học kỹ thuật còn yếu. Những loại khí tài dùng phản công điện tử thì có giá thành rất cao và công nghệ được đưa vào hàng chiến lược, tuyệt mật và đương nhiên các quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Nga và EU sẽ có được lợi thế và khả năng trong thực hiện nhiệm vụ chế áp điện tử. Trung Quốc cũng đang nỗ lực xây dựng lực lượng tác chiến điện tử riêng cho mình, tuy nhiên so với các cường quốc nói trên thì vẫn còn rất nhiều hạn chế và thiếu kinh nghiệm.
Với Việt Nam thì chúng ta chưa đủ sức để phản công điện tử, chống tác chiến điện tử với hình thức chế áp cứng với đối phương là Mỹ, nhưng bảo vệ hệ thống điện tử, chế áp mềm thì Việt Nam có đủ tự tin, bản lĩnh và kinh nghiệm phong phú.
Thông thường, chiến tranh ngày nay chỉ xảy ra bắt đầu từ một quốc gia hùng mạnh chủ động tấn công một quốc gia nhỏ yếu hơn mình, năng lực quốc phòng hạn chế gần như có chung một phương thức tiến hành.
Đầu tiên, máy bay tàng hình, tên lửa hành trình từ các tàu ngầm, tàu nổi mở màn, tấn công vào lãnh thổ nhằm làm cho hệ thống radar phòng không, hệ thống thông tin chỉ huy liên lạc tê liệt hoặc thiệt hại nặng khiến đối phương như “mù” và “điếc”.
Tiếp theo, không quân xuất kích chiếm lĩnh, thống trị bầu trời săn diệt những mục tiêu quân sự còn lại một cách dễ dàng và đánh phá các trung tâm kinh tế, chính trị, quốc phòng…mà không hề gặp sức kháng cự.
Mục đích chiến tranh đạt được hay không tùy thuộc có thống trị được bầu trời đối phương hay không, cho nên, giai đoạn này được coi là đặc biệt quan trọng.
Cuối cùng là lực lượng đổ bộ xuất kích hoặc không cần thiết khi đối phương đã đầu hàng không điều kiện.
Trong phương thức chiến tranh này, dễ dàng nhận thấy giai đoạn đầu tiên có vai trò then chốt, quyết định thời gian, kết quả của chiến tranh. Đó chính là hoạt động tác chiến điện tử với hình thức chế áp điện tử.
Song hành cùng sự phát triển của không quân, hệ thống phòng không, tên lửa phòng thủ biển diệt hạm ngày càng phát triển với nhiều chủng loại có khả năng tiêu diệt mục tiêu đường không và trên biển cực lớn.
Nếu tác chiến điện tử không thành công, nghĩa là khả năng phòng không, phát hiện mục tiêu, sự thông tin liên lạc chỉ huy của đối phương chưa bị đánh quỵ thì giá phải trả của không quân, chiến hạm khi bị giáng trả là không tránh khỏi và đương nhiên chiến tranh có thể kéo dài, mà càng kéo dài thì càng tốn kém, việc sa lầy là hiện hữu.
Điều rút ra quan trọng, lý thú ở đây là VKCNC luôn phát huy tác dụng khi tồn tại trong môi trường điện tử thuận lợi. Khi không thuận lợi như bị nhiễu loạn thì VKCNC như là kẻ “mù, điếc và ngu dốt” không hơn không kém. Dù cho có một hệ thống trinh sát điện tử hiện đại thì kết quả tín hiệu, thông tin thu được sẽ vô dụng nếu không có sự phân tích xác đáng và tất cả phân tích đều vô dụng nếu tướng lĩnh, người lính không đánh giá xác đáng.
Đó là lý do vì sao trong trận hải chiến tháng 10/1973, tàu phóng tên lửa Ixrael dù tầm phóng tên lửa kém tàu tên lửa Ai-Cập 2,5 lần nhưng vẫn cho biên đội 3 tàu tên lửa Ai-Cập yên nghĩ vĩnh viễn dưới đáy biển.
Đó là lý do tại sao trong cuộc chiến xung đột Israen - Hecbola vừa qua sự kiện tên lửa đối hạm C-802 của Hecbola bắn chìm tàu hộ tống Eliat Saaz 5 của Israen đã đặt ra nhiều câu hỏi, tại sao các phương tiện trinh sát hiện đại của Israen không phát hiện vị trí tên lửa C802, cũng như thời điểm phóng tên lửa.
Và cuối cùng, đó là lý do vì sao tàu tên lửa, tàu phóng lôi, TT-400TP…của Việt Nam nhỏ nhanh, uy lực, dù tầm hỏa lực kém xa những chiến hạm hiện đại của Trung Quốc nhưng vẫn tự tin đối đầu nếu như điều đó xảy ra.