Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

Sân bay Gạc Ma-Trường Sa dưới góc nhìn của lính (tiếp theo)

Dù Trung Quốc có biến đảo Gạc Ma thành như đảo Hải Nam thì không quân Việt Nam vẫn làm chủ vùng trời quần đảo Trường Sa. Đây là một thực tế rất khó tiêu hóa của giới quân sự Trung Quốc

Đòn đánh phủ đầu trên quần đảo Trường Sa?
Thần chiến tranh luôn ban cho kẻ gây chiến một miếng võ lợi hại, đó là đòn đánh phủ đầu hay là đòn đánh đầu tiên mở đầu cuộc chiến. Khi một quốc gia nhỏ, yếu, bảo vệ chủ quyền của mình theo tinh thần tự vệ…thì hiếm khi sử dụng đòn đánh phủ đầu và tất nhiên luôn bất lợi, bị động trước thế lực gây chiến. Ngay như Nhật Bản, một quốc gia có một hiến pháp hòa bình duy nhất trên thế giới, trong tình thế căng thẳng với Trung Quốc, khi khôi phục lại quyền “tự vệ tập thể” vẫn không loại trừ đòn đánh phủ đầu này…mới thấy sự nguy hiểm, lợi hại, của đòn đánh phủ đầu như thế nào.
Có thể nói, bất ngờ là lợi thế chủ yếu của đòn đánh phủ đầu. Đó là bất ngờ về thời gian, bất ngờ về quy mô, bất ngờ về hướng tấn công, sẽ khiến cho đối phương bị động về chiến lược, bị động về chiến thuật và tất yếu bị thiệt hại lớn. Tấn công phủ đầu là tiền đề cho phương châm tác chiến “đánh nhanh thắng nhanh” hay chiến tranh hiện đại dồn nén thời gian mà một quốc gia nhỏ, yếu thường bị choáng váng, suy sụp từ trận đầu kéo theo sự sụp đổ dây chuyền khó tránh khỏi.
Nhật Bản tấn công phủ đầu Mỹ trận Trân Châu cảng, Đức tấn công phủ đầu Liên Xô, đem đến những thiệt hại khủng khiếp cho cả hai mà nếu như nội lực kém thì sẽ sụp đổ. Còn mới đây Irac, Lybia, Nam Tư…đã không gượng dậy nổi khi ăn đòn đánh phủ đầu.
Nguy hiểm nhất của “miếng võ” này là về thời gian. Tấn công lúc nào hoàn toàn do bên gây chiến nắm quyền. Đương nhiên, đó là lúc mà đối phương ít phòng bị, lực lượng mỏng, sơ hở; những lúc tình hình đất nước như kinh tế, chính trị gặp nhiều khó khăn…thì kẻ gây chiến sẽ ra tay. Năm 1979, Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới Việt Nam; năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam…là những minh chứng sinh động nhất mà chúng ta đã thấy.
 Vậy, liệu trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc sẽ tấn công phủ đầu hay không?
Sẽ không bao giờ Trung Quốc cho quân đổ bộ đánh chiếm đảo Senkaku/Điếu Ngư. Trung Quốc không dại đưa quân mình đến đó để Nhật Bản biến quần đảo Senkaku thành cái “cối xay thịt” lính Trung Quốc, ngược lại, Nhật Bản, tuy quản lý quần đảo, song cũng không dại đưa lính của mình ra giữ mà chỉ tiến hành các cuộc tập trận với nội dung “Đánh chiếm lại đảo” mà thôi. Cuộc chiến Trung-Nhật chỉ có thể xảy ra trên vùng biển lân cận Senkaku/Điếu Ngư chứ không bao giờ xảy ra kiểu “bên thủ, bên công” trên quần đảo tranh chấp này.
Trên quần đảo Trường Sa, rõ ràng, điểm đứng chân của Trung Quốc rất mong manh với 7 cái đảo đá nửa nổi nửa chìm lại rất xa căn cứ khiến cho không quân của họ không thể tác chiến trên vùng trời Trường Sa. Trong khi đó, Việt Nam làm chủ nhiều đảo lớn, có cả đường băng, có quân đội đồn trú…lại đều nằm trong tầm tác chiến của không quân. Vì thế Trung Quốc đổ tiền của vào, biến các dãy ngầm san hô thành đảo và đặc biệt biến Gạc Ma thành một căn cứ quân sự Hải quân-Không quân là bắt buộc (Lưu ý là, bài viết chỉ nêu góc nhìn quân sự chứ không bàn đến góc nhìn khác), nhưng đừng vội cho là tạo ra “thế thượng phong” với Việt Nam…
Về quy mô, đừng đánh giá quá cao “căn cứ quân sự Hải-Không quân” Gạc Ma vì trước biển cả đại dương, sức lực con người vẫn rất là nhỏ bé. Chừng nào lực lượng không quân của Trung Quốc trên sân bay Gạc Ma hoàn toàn đè bẹp lực lượng không quân Việt Nam, nghĩa là, khi không quân Việt Nam bay lên bầu trời khu vực Trường Sa đều bị lực lượng không quân Gạc Ma khống chế, tiêu diệt, thì lúc đó, các đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam mới xuất hiện nguy cơ lớn. Nhưng, ngay cả khi Gạc Ma như đảo Hải Nam thì điều đó cũng không thể, huống chi... Vậy vấn đề quân sự của Gạc Ma ở đây là gì?
Nếu hoàn thành như đồn đoán và công nhận của chính quyền Trung Quốc thì Gạc Ma là một căn cứ không-hải quân, nói cách khác Gạc Ma là một đảo có cầu cảng cho tàu hải quân Trung Quốc neo đậu, tiếp tế; có đường băng cho máy bay cất hạ cánh. Đây là căn cứ xuất phát tấn công khá mạnh trong khu vực quần đảo Trường Sa. Trung Quốc có thể đổ bộ đánh chiếm đảo bằng tàu đổ bộ cỡ lớn với máy bay trong quãng đường và thời gian ngắn nhất có thể thay vì phải điều lực lượng từ Hải Nam xuống. Với vận tốc trung bình (khi chưa tăng tốc) của SU-27 Việt Nam là 1.300km/h thì trong 15 phút đầu, không quân Trung Quốc cất cánh từ Gạc Ma có thể sẽ làm mưa làm gió trên vùng trời quần đảo Trường Sa trước khi SU-27 Việt Nam 
xuất hiện (không phải SU-30).
15 phút trong chiến tranh hiện đại không phải là ít, nó giải quyết rất nhiều vấn đề, tuy nhiên, đòn phủ đầu mà không gây thiệt hại lớn, làm suy sụp hệ thống phòng thủ thì 15 phút quả là quá ít, nó được coi như là sự đáp trả “ngay và luôn” của đối phương.
Trong khi bảo đảm kỹ thuật sẽ gặp rất nhiều khó khăn, số lượng máy bay thường trực trên đảo ít thì sẽ không đủ sức giải quyết nhiệm vụ theo phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”. Vì vậy, nhờ vào sự tiếp tế hậu cần, kỹ thuật từ các đảo mà Trung Quốc đang xây dựng; nhờ vào lực lượng không quân trên Gạc Ma… là cho rằng, Trung Quốc có thể nhanh chóng chiếm trọn Trường Sa của Việt Nam chỉ bằng đòn đánh phủ đầu, đồng thời ngăn chặn, cắt đứt sự chi viện từ đất liền Việt Nam, là quá coi thường sức mạnh Việt Nam là ý tưởng ngông cuồng.
Gạc Ma chưa thể và không thể thay thế được vai trò nhiệm vụ của một hạm đội tàu sân bay, cho nên, Gạc Ma nó có ý nghĩa nhiều về chính trị hơn là là quân sự.
 Tuy nhiên, coi thường sức mạnh đối thủ, phô trương thanh thế, hống hách, kiêu ngạo…của kẻ xâm lược luôn tạo ra những hành động liều lĩnh mà những cái đầu lạnh, tỉnh táo, không bao giờ làm.
Việt Nam rất tự tin nhưng không ngồi nhìn.
 Báo Hoàn Cầu đã vênh váo khẳng định rằng, Gạc Ma là “ tàu sân bay không thể đánh chìm của Bắc Kinh” ở Biển Đông; nhiều học giả hiếu chiến ở Trung Quốc thì hoan hỉ ra mặt, cho rằng đây là “nước cờ quá đẹp” bởi viễn cảnh sẽ có những phi đoàn máy bay J-10 cho đến J-11 của họ cất cánh, hạ cánh như mắc cửi trên căn cứ Gạc Ma để khống chế Biển Đông và eo biển Malacca…Rằng, chỉ có Trung Quốc mới làm được đảo nhân tạo, còn Nhật Bản, Mỹ thì không có chỗ ở Trường Sa và bắt đầu từ đây quần đảo Trường Sa đã nằm trong tay Trung Quốc…
Điều lạ là hình như các nhà phân tích, học giả Trung Quốc như Thạch Tề Bình, Lâm Vĩ Tiệp…rất giống với AQ, tâng bốc cái sân bay Gạc Ma lên tận mây xanh, trong khi lại quên mất tàu sân bay Liêu Ninh và nghe đâu còn 3 chiếc khác đang đóng. “Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mãnh chỉnh vứt ngoài bụi tre”. Cái đường băng trên Gạc Ma là cái gì so với tàu sân bay Liêu Ninh nếu như nó trực chiến trên Biển Đông? Hay là họ coi như Liêu Ninh là đồ bỏ rồi chắc? Càng thổi phồng vai trò chiến thuật của Gạc Ma lên bao nhiêu thì chứng tỏ Trung Quốc càng phơi bày tử huyệt và khả năng hạn chế trong tham vọng lớn bấy nhiêu.
Đúng là không thể đánh chìm, nhưng đánh sập thì không quá khó khăn. Việc làm cho sân bay Gạc Ma tê liệt dù công nghệ không thể thì chiến thuật vẫn có thể, huống chi, cả công nghệ và chiến thuật đều có thể, thì sân bay quân sự Gạc Ma chỉ là con ngáo ộp.
Hãy tưởng tượng khi dăm bảy chiếc J-10 hay J-11 cất cánh lên rồi…không còn nơi để hạ cánh thì sẽ ra sao trước khi nghĩ đến khống chế toàn Biển Đông và eo biển Malacca.
Vậy, về ý nghĩa quân sự thì chẳng có gì khiến Việt Nam hoảng hốt khi Trung Quốc xây dựng đường băng trên Gạc Ma và biến các đảo chìm thành đảo nổi cả. Tuy nhiên, âm mưu đánh chiếm Trường Sa của Bắc Kinh là không bao giờ ngừng nghỉ mà càng ngày càng biểu hiện hung hăng, bất chấp trắng trợn hơn. Bởi vậy, Việt Nam không thể không cảnh giác, không thể không chuẩn bị mọi thứ cần thiết đối phó với kẻ thù trong cả trường hợp chúng hành động liều lĩnh.

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Sân bay Gạc Ma-Trường Sa dưới góc nhìn của lính.


Gạc Ma là một “tàu sân bay không thể đánh chìm” nhưng…đáng tiếc, sân bay xây dựng trên đó lại rất dễ đánh sập, đánh hỏng.
Đã hơn nửa năm nay, Trung Quốc đang bí mật xây dựng biến đảo đá san hô Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa thành một sân bay quân sự có chiều dài chừng 2000m. Qua ảnh vệ tinh cung cấp thì tình hình có vẻ như vậy, trên đó đang hình thành một sân bay cùng với hệ thống cầu cảng…Vậy, ý đồ quân sự của Trung Quốc khi xây dựng sân bay này là gì? Sự lợi hại của sân bay này ra sao, ở mức độ nào?
Phải công nhận rằng, biến một đảo đá san hô giữa biển khơi thành một sân bay quân sự là một công việc không phải bất cứ quốc gia nào cũng có khả năng làm được. Trung Quốc giàu có về tiền bạc lại “giàu có” về ý tưởng bành trướng mộng mị nên…Vạn Lý Trường Thành họ làm được, thì xây dựng một sân bay ở 
Gạc Ma là chuyện nhỏ.
Với đường băng dài 2.000 m, Trung Quốc có thể triển khai các máy bay tân tiến của PLA như Su-30, J-11 và J-10 đến Trường Sa. Điều này cho phép Trung Quốc tiến hành các hoạt động trên không ở biển Đông và toàn bộ khu vực vịnh Malacca. Đây sẽ là một mối đe dọa cho Việt Nam cùng những quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trong khu vực (theo Kanwa Defense Review).
Nếu là vậy thì sân bay Gạc Ma có vị trí chiến lược trọng đại, là yếu tố quyết định thành bại “giấc mơ Trung Hoa” trên Biển Đông. Do đó, có bán Hạm đội Đông Hải đi để đầu tư vào xây dựng sân bay trên Gạc Ma cũng quá rẻ. Tuy nhiên…
Phát triển tàu sân bay Trung Quốc đã bế tắc?
Rõ ràng, để bảo đảm kỹ thuật cho một máy bay hoặc một phi đội hoạt động thường trực trên Gạc Ma trong điều kiện thời tiết, khí hậu rất phức tạp như độ ẩm mặn cao…là không dễ dàng, trong khi xây dựng sân bay trên đó lại vô cùng tốn kém. Nhưng, một khi TSB Liêu Ninh trực chiến ở Biển Đông thì sân bay Gạc Ma lại không còn giá trị. Vậy tại sao Trung Quốc lại đang tập trung vật lực và ý chí, quyết tâm để xây dựng sân bay Gạc Ma?
Cách duy nhất để giải thích cho vấn đề này là, thứ nhất, Trung Quốc không thể đoán định được thời gian bao lâu thì tàu sân bay Liêu Ninh đủ khả năng trực chiến tại Biển Đông.
Chỉ riêng trong năm 1954 - đúng 8 năm sau khi chiếc máy bay chiến đấu đầu tiên hạ cánh trên tàu sân bay USS Franklin D. Roosevelt, và, bất chấp việc phát triển các khái niệm âm thanh cho máy bay bay từ boong tàu sân bay, Hải quân và đơn vị Lính thủy đánh bộ Mỹ đã mất 776 máy bay và 535 phi công.
Đây là con số tổn thất không thể tưởng tượng nổi. Một cái giá sơ sơ phải trả cho việc bá chủ biển cả chứ không phải có hàng ngàn tàu đánh cá là coi “biển chỉ sâu đến đầu gối”, coi Biển Đông như “ao nhà mình” dễ dàng như vậy.
Trung Quốc, ngày nay, dù khoa học công nghệ phát triển hơn, nhưng trình độ công nghệ TSB hiện tại vẫn không thể bằng Mỹ lúc đó. Vả lại, không ai có thể san sẻ kinh nghiệm này cho Trung Quốc, vì đây là bí mật quốc gia của họ. Bởi vậy, Trung Quốc dù có tài “copy and paste” cũng không có nghĩa "miễn nhiễm" với mối nguy hiểm này.
Hai phi công huấn luyện tại tàu sân bay Liêu Ninh bị thiệt mạng mới đây là chỉ mới bắt đầu giai đoạn khó khăn, tổn thất lớn, nếu như muốn có một tàu sân bay hoạt động như của Mỹ dù trình độ cách đây 60 năm.
Thứ hai là, sân bay Gạc Ma thay thế tạm thời cho nhiệm vụ của tàu sân bay Liêu Ninh…đồng thời khẳng định chủ quyền (phi pháp) trên quần đảo Trường Sa Việt Nam.
Như vậy, vấn đề còn lại là sân bay Gạc Ma trong ý đồ tác chiến của Trung Quốc như thế nào?
Đòn đánh phủ đầu chớp nhoáng.
Có thể khẳng định rằng, trong chiến tranh hiện đại, làm chủ vùng trời tác chiến là giành chiến thắng, do đó, tác chiến của không quân là yếu tố quyết định thành bại của chiến dịch, chiến tranh.
Hiện tại bất kỳ một máy bay nào của Trung Quốc dù hiện đại như SU-30 thì không thể tác chiến được ở khu vực Trường Sa nếu như xuất phát tại Hải Nam. Đây là tử huyệt khó che đậy, là bất lợi lớn của Trung Quốc trong chiến lược bá chủ Biển Đông. Trong khi đó, hầu như các máy bay của không quân Việt Nam lại chiếm ưu thế lớn khi thừa thời gian để tác chiến trên Biển Đông. Vì thế, Trung Quốc xây dựng sân bay trên các hòn đảo chiếm được trên Biển Đông hay đang gấp rút chế tạo, huấn luyện tàu sân bay, thực chất là hạn chế sự bất lợi thế của mình trong vấn đề sử dụng không quân tác chiến trên Biển Đông và khu vực Trường Sa. Còn từ đó, để chiếm ưu thế khi tác chiến hay không lại là không đoán định được, là chuyện khác.
Trước hết, như các chuyên gia nước ngoài đánh giá rằng, “với đường băng dài 2000 m, Trung Quốc có thể triển khai các máy bay tân tiến của PLA như Su-30, J-11 và J-10 đến Trường Sa. Điều này cho phép Trung Quốc tiến hành các hoạt động trên không ở biển Đông và toàn bộ khu vực vịnh Malacca…”
Bỏ qua yếu tố kỹ thuật, thì đây là một đánh giá đúng của các học giả và nhà chính trị (không phải của nhà quân sự), nhưng chỉ trong trường hợp không xảy ra tác chiến mà thôi. Khi đó, Gạc Ma là một “tàu sân bay không thể đánh chìm” là chính xác, là có thể phát huy vai trò nhiệm vụ như trên. Song, đáng tiếc, khi tác chiến xảy ra, Gạc Ma lại là một “tàu sân bay” rất dễ bị đánh hỏng, đánh sập.
Trong một vị trí cài răng lược trên quần đảo Trường Sa; trong khả năng tự vệ cao của lực lượng phòng thủ Việt Nam; trong sự xuất hiện vũ khí tầm xa, tầm trung hiện đại, uy lực mạnh…thì việc buộc sân bay Gạc Ma ngừng hoạt động không phải là quá khó và tất nhiên, không nằm ngoài sự tính toán, dự liệu, của các nhà quân sự Trung Quốc. Vậy tại sao, Trung Quốc vẫn không tiếc tiền của đổ vào đó để gấp rút hoàn thành sân bay Gạc Ma? Bởi vì, giới quân sự Trung Quốc đang hy vọng một kết quả khả quan trước một ý đồ tác chiến mà họ nung nấu, họ có quyền nắm lợi thế: Đòn tấn công phủ đầu.
Có thể nói, điều nguy hiểm gây ra từ sân bay Gạc Ma cho Việt Nam là ở ý đồ tác chiến đánh đòn phủ đầu hay tấn công trước vào các đảo và đất liền Việt Nam trong phương châm đánh nhanh thắng nhanh của Trung Quốc. Chỉ có thắng lớn trong đòn đánh phủ đầu thì sân bay Gạc Ma mới không bị đối phương buộc phải ngừng hoạt động và lúc đó Gạc Ma trở thành một nút chặn khá lợi hại, cắt đứt sự hỗ trợ của đất liền cho các đảo của Việt Nam. Nếu thất bại trong đòn đánh phủ đầu thì sân bay Gạc Ma, sứ mệnh, vai trò nhiệm vụ cũng giống như giàn khoan Hải Dương 981 mà thôi.
Vậy là trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã, đang “mài giáo”.

Sự lợi hại của đòn đánh phủ đầu là như thế nào? Tại sao Trung Quốc lại đặt cược lớn, một canh bạc liều lĩnh, vào đòn đánh phủ đầu như vậy? Còn Việt Nam?

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

UKRAINE TỪ GÓC NHÌN CỦA LÍNH.


Phải xác định rõ là trong sự đối đầu vừa qua giữa Mỹ-NATO với Nga thì Ukraine chỉ là một khu vực tác chiến hoặc lớn hơn, cũng chỉ là một chiến trường.
Ukraine là vị trí cuối cùng của NATO khi tiến về hướng Đông giáp Nga. Bởi vậy, Ukraine được coi như là khu cấm địa của Nga và là nơi “tranh chấp bóng” quyết liệt nhất của Mỹ, phương Tây và Nga. Cuộc chiến địa chính trị tranh giành ảnh hưởng Ukraine đã diễn ra hết sức gay gắt và cuối cùng Mỹ-phương Tây đã thắng. Ukraine đã đoạn tuyệt Nga để theo phương Tây bằng cuộc “cách mạng đường phố” Maidan, lật đổ chính quyền hợp pháp của Tổng thống Yanukovich. Tương lai gần, cũng giống như các nước vùng Baltic và Đông Âu, sau khi gia nhập vào EU thì sẽ gia nhập vào Khối quân sự Bắc Đại Tây dương NATO. Giá trị của Ukraine khi gia nhập vào NATO ở chỗ Nga buộc phải biến mất khỏi Crimea đồng nghĩa với mất trắng Biển Đen.
Tuy nhiên, cuộc chiến địa chính trị chưa phải là nấc thang cuối của việc tranh giành ảnh hưởng, quyền cai trị, lên một quốc gia nào đó hay một khu vực nào đó, mà cuộc chiến bằng lực lượng quân sự mới là nấc thang cuối quyết định “ai thắng ai”.
Thế nhưng, trong trận quyết định này, chính quyền Kiev, Mỹ-NATO đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng.
Không "biết địch" cũng chẳng "biết ta".
Ý đồ chiến lược của Nga đối với Ukraine như sau: Nếu Ukraine theo EU thì lập tức chiếm Crimea bằng vũ lực, sáp nhập vào Nga. Đồng thời, kích hoạt vùng Donbass (Donetsk và Lugansk) ly khai…
Có thể nói, về mặt quân sự, ý đồ tác chiến của Nga là đúng, hạ quyết tâm của Nga là chính xác. Tuy về chính trị, thoạt nhìn, có thể coi đây là âm mưu xâm lược, can thiệp của Nga vào Ukraine (quên đi), nhưng xét trong sự đối đầu quân sự giữa Mỹ-NATO với Nga thì Ukraine chỉ là một khu vực tác chiến hay là chỉ một chiến trường.
Thế nhưng, tình báo chiến lược của Mỹ-NATO không hề biết một chút gì về ý đồ, sự chuẩn bị, hành động và ý chí của Kremlin. Nếu như họ biết, thì tình thế có thể đã khác, họ sẽ có cách xử lý từng nước đi hợp lý chứ không đến mức bất ngờ, không kịp trở tay khi Nga chiếm Crimea.
Tại sao họ không biết ý đồ và ý chí của Nga? Vì Mỹ-NATO không đặt mình vào vị trí Nga. Mexico, Canada chưa bị Nga hay Trung Quốc đặt tên lửa chĩa vào Mỹ và ngay Cuba thì đã quá lâu nên khiến Mỹ quên và thiếu “cảm giác bóng”. Mỹ-NATO cho rằng, chỉ có họ mới có quyền tấn công vào quốc gia khác khi cảm thấy “an ninh quốc gia bị đe dọa”, còn Nga thì không.
Trong quân sự, không “biết địch” là tai họa khôn lường thì không “biết ta” lại là thảm họa.
Không phủ nhận ý chí quyết tâm đúng đắn của Kiev là ổn định, thống nhất đất nước để chuẩn bị cho các bước đi tiếp theo. Kiev dùng quân đội Ukraine để ra tuyên bố sắc lạnh với quân ly khai mà họ gọi là quân khủng bố: “Đầu hàng hoặc là chết”. Nhưng tổng thống tạm quyền và đương nhiệm lại không nắm được quân đội. Tiểu đoàn Donbass thiện chiến nhất, lại là của một ông trùm tài phiệt. Quân đội Ukraine với trang bị hiện đại chỉ giỏi đàn áp biểu tình, chống lại những “đội tự vệ”…nhưng khi đụng đầu với quân ly khai được trang bị vũ khí tương đương, tổ chức lớn hơn “đội tự vệ”, thì ý chí chiến đấu, với họ là thứ xa xỉ.
Bởi vậy, dựa vào quân đội này để hạ quyết tâm đàn áp quân ly khai là thiếu chính xác, không có cơ sở. Tiến hành đàn áp (tác chiến) thì bế tắc về chiến thuật dẫn đến không từ mọi biện pháp, bất chấp mạng sống của người dân vô tội nên đã kích hoạt lòng căm thù và ý chí chiến đấu của quân ly khai. Thua về chiến thuật, thua xa về ý chí, cho nên, khi quân ly khai lớn mạnh, tác chiến cấp lữ đoàn với trang bị mạnh của Nga thì không đại bại mới là chuyện lạ. Không có lực lượng hùng hậu của Nga ở Ukraine là sự thật, là hợp lý (bởi ngay chính phủ Mỹ đến nay vẫn phải công nhận là chưa có bằng chứng), quân ly khai được trang bị đầy đủ vũ khí thì họ vẫn đủ sức đánh bại quân đội Kiev Kiev tố cáo Nga đưa quân sang…chỉ là biện minh cho sự yếu kém của mình mà thôi. 
Như vậy, Mỹ-NATO đã thất bại cấp chiến lược, Kiev thất bại cấp chiến dịch, chiến thuật, trước Nga và quân ly khai thì tình hình Ukraine còn gì để nói?
Những điều rút ra từ Ukraine.
Điều kiện lịch sử, đặc điểm vùng miền, phân bố dân cư, lợi thế địa lý của Ukraine thì về lý thuyết, thoát Nga, khó khăn một, chống lại Nga hoặc gián tiếp gây phương hại đến an ninh nước Nga, như gia nhập NATO là phiêu lưu gấp bội phần.
Một đất nước có ¼ dân số người Nga, lại phân bố tập trung vào vùng Donbass và Crimea mà ở đó có căn cứ quân sự của Nga; một đất nước mà hoàn toàn phụ thuộc Nga về năng lượng, khí đốt…thì chống Nga, đối đầu Nga bằng cách nào? Tất nhiên, vẫn có thể, nhưng ai, dù “ngố” mấy, cũng đoán được lúc đó, ¼ dân số sẽ theo Nga cùng vùng Donbass và Crimea. Chống Nga thì việc đầu tiên Kiev phải bình định được vùng Donbass, nội chiến sẽ xảy ra, nhưng dẹp được vùng này là chuyện bất khả thi. Thực tế ở Ukraine đã diễn ra hoàn toàn như vậy mà không thể khác.
Về địa thế, Ukraine không phải là Việt Nam. Tổng thống Nga Putin tuyên bố, nếu muốn, chỉ 2 tuần là Nga đến Kiev, là không sai, bởi địa thế Ukraine là nơi cho hàng ngàn xe tăng, pháo tự hành…và hàng chục ngàn quân có thể một lần, một lúc, ào ào nhằm Kiev thẳng tiến. Nhưng nếu từ biên giới phía Bắc Việt Nam đến Hà Nội thì 2 tuần chưa đủ đâu thưa ngài Đại đế Putin. Đó là lý do tại sao vó ngựa của quân Nguyên Mông tràn khắp châu Âu, xéo nát Trung Hoa nhưng phải dừng vó tại Việt Nam.

Vấn đề cuối là tại sao Ukraine lại  như “đồ chơi trong túi Nga” vậy? 
Vì Ukraine không mạnh, không bắt Nga phải trả giá đắt khi can thiệp, xâm lược. Vì Ukraine thiếu khôn ngoan trong sách lược khi sống giữa hai làn đạn, chỉ biết dựa vào Mỹ-NATO nên biến mình thành một quân tốt của Mỹ-NATO trên bàn cờ chiến lược của họ. Đắng cay sao, thí tốt là một trong chiến thuật đánh cờ của người chơi. Việt Nam mà như Ukraine thì...bị Hán hóa từ lâu rồi.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

VIỆT NAM MUA GÌ ĐẦU TIÊN KHI MỸ BỎ CẤM VẬN?



Việc hiệp định 123 về hạt nhân dân sự của Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết thì vấn đề dở bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là vấn đề không thể khác.
Tuy nhiên, khi đó, Mỹ không thể cho không mà Việt Nam phải trả bằng USD. Vấn đề là, muốn, cần thì nhiều, nhưng có tiền để mua hay không mới quan trọng, đặc biệt mua loại vũ khí nào cho phòng thủ hữu hiệu mới là quyết định.
Có lẽ có 2 thứ mà Việt Nam cần nhất mà có nó Việt Nam sẽ có thêm tự tin.
Vũ khí âm thanh chính hiệu Hoa Kỳ.
Trong thông cáo được phát đi vào ngày 16/12/2013, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, trợ giúp này đáp ứng trực tiếp các ưu tiên đã được nêu trong Biên bản chung về Hợp tác Hàng hải-Cảnh vệ Duyên hải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ký ngày 1/10/2013 giữa Thiếu tướng Cảnh sát Biển Việt Nam (VCG) Nguyễn Quang Đạm và Đô đốc Tư lệnh Cảnh vệ Duyên hải Hoa Kỳ (USCG) Robert J. Papp, để nâng cao năng lực của các đơn vị tuần tra biển nhằm triển khai nhanh các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, ứng phó thảm hoạ, và các hoạt động khác, bao gồm cả việc cung cấp 5 tàu tuần tra cao tốc vào năm 2014 cho lực luợng Cảnh sát Biển Việt Nam. Viện trợ cho Việt Nam 5 con tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng CSB Việt Nam này chắc chắn không thể thiếu LRAD chính hiệu.
Điều ngạc nhiên thú vị là không hiểu tại sao trên các tàu hiện đại của CSB Việt Nam đều trang bị LRAD của Mỹ, thiết bị có thể tạo ra âm hưởng tối đa 146 dB, cao hơn giới hạn gây đau đớn cho con người (120-130 dB) và gây thủng màng nhĩ.
Đây là vũ khí “phi sát thương” được dùng trên biển để chống hải tặc hữu hiệu nhất mà ít khi và không dùng để giải tán biểu tình. Vì vậy, với Việt Nam, dùng để đối phó với “50.000 vũ khí công nghệ cao” của Trung Quốc trên Biển Đông khi chúng cậy đông, ồ ạt xông vào vùng EEZ đánh bắt trái phép là một sự răn đe khủng khiếp sắp tới. 
Trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, có lẽ CSB Việt Nam giấu bài, hoặc LRAD chỉ có ở tàu lớn như 8001, nhưng dẫu sao CSB đã có loại vũ khí này.
Như vậy, vũ khí đầu tiên mà Việt Nam cần ở Mỹ với số lượng nhiều là đây, với chất lượng chính hãng và phạm vi tác chiến lớn hơn. Tất nhiên, Việt Nam vẫn có thể mua vũ khí này từ Pháp, nhưng độ tin cậy không cao vì chưa qua “trận mạc” so với LRAD của Mỹ như đã từng.
Mua 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới của Mỹ.
Sự xuất hiện của P-3C4 trên Biển Đông sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sự sống còn của lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc còn hơn cả hạm đội tàu ngầm Việt Nam sắp tiển khai. Rõ ràng, kế hoạch tác chiến của Hạm đội Nam Hải trên Biển Đông buộc phải hoàn toàn thay đổi.
Đây là điều Trung Quốc không bao giờ muốn, rất lo ngại, bởi lẽ, khi lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên Biển Đông bị “phơi lưng” thì không những có lợi cho Việt Nam (đương nhiên) mà Mỹ vẫn được lợi khi  lực lượng săn ngầm của Mỹ không có điều kiện hoạt động tại đây.
Trong khi đó, chống ngầm trong phòng thủ biển của Việt Nam cực kỳ quan trọng, mang tầm chiến lược. Phải xây dựng 4 lực lượng gồm: mìn, thủy lôi chống ngầm; tàu mặt nước săn ngầm; tàu ngầm chống ngầm và máy bay chống ngầm là then chốt.
Do vậy, không có gì là ngạc nhiên khi Việt Nam có ý định mua của Mỹ hay Nhật Bản loại máy bay này từ trước và nếu thành công thì chắc chắn đây chẳng phải là lần cuối cùng Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam.
Hải quân Việt Nam có 6 chiếc tàu ngầm và cần có thêm 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới do Mỹ sản xuất là bảo đảm có một “vùng biển sạch” cần thiết nếu muốn cho nhu cầu tác chiến trên Biển Đông.

Thế là đủ. Trong tay Việt Nam có thêm 2 loại này nữa thì chẳng khác nào Rồng lửa Việt Nam có móng vuốt của Nga và lửa của Mỹ.

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

SỰ KIỆN NGÀY 2/8/1964: HÃY NHỚ LẤY!



Đừng nghi ngờ Việt Nam có dám đánh hay không dám đánh để bảo vệ chủ quyền mà vấn đề là giới hạn của sự chịu đựng Việt Nam đến đâu.
Đêm 31-7-1964, tàu khu trục SS Maddox của Hải quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17 và ngược lên phía Bắc, tiến vào vùng biển Quảng Bình, sau đó tiếp tục đi sâu vào vùng biển Nghệ An để điều tra hệ thống bố phòng của Hải quân Việt Nam ở ven biển miền Trung. Tàu SS Maddox có lúc đã vào gần bờ tới 5-6 hải lý khiến cho các đài quan sát có thể nhìn rõ số hiệu 731 qua ống nhòm.
Sáng 1-8, tàu SS Maddox bắn vào Hòn Mê, Đèo Ngang của Việt Nam.
Trước sự ngang ngược, khiêu khích trắng trợn, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, ngày 2/8/1964, 3 tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam xuất kích tấn công...
Đây là trận hải chiến đầu tiên của Hải quân non trẻ Việt Nam với Hạm đội 7 Hải quân Mỹ trên Biển Đông.
Kết quả là, sau khi đối đầu với một ý chí quật cường, hành động dũng cảm quyết liệt, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, tàu khu trục SS Maddox đã phải rút chạy ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.
Và, chiến dịch ném bom của không quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam, một chiến dịch ném bom hung bạo, ác liệt nhất trong lịch sử, hòng đưa dân tộc Việt trở về “thời kỳ đồ đá” mở màn.
Sự kiện ngày 02/8/1964 nói lên điều gì?
Về so sánh lực lượng. Nếu như nói rằng lúc đó, so sánh về lực lượng không quân và hải quân, Mỹ hùng mạnh như thế nào thì không cần đặt ra con số, chỉ biết rằng, Việt Nam chẳng có gì để so sánh với Mỹ. Vùng trời, vùng biển Việt Nam bị Mỹ khống chế, Mỹ như “múa gậy vườn hoang”.
Về tình thế. Mỹ đã lập sẵn kế hoạch và chuẩn bị đầy đủ mọi cơ sở vật chất, kỹ thuật để ném bom miền Bắc Việt Nam. Vấn đề là cần có cớ để ra tay và tàu khu trục SS Maddox được giao thực hiện nhiệm vụ đó. Chúng đã hành động như đã nói trên.
Quyết định của Việt Nam. Hà Nội quá rõ âm mưu này nhưng vẫn quyết định tấn công vào Maddox. Thực ra, đánh đuổi tàu Maddox ra khỏi vùng biển chủ quyền hay thậm chí đánh chìm nó với Việt Nam không phải là điều gì quá to tát, hệ trọng, bởi lẽ, tàu Maddox trong cuộc đối đầu sắp tới của Việt Nam và Mỹ trên bầu trời miền Bắc, chỉ là “con tép riu”, là chuyện nhỏ. Cả miền Bắc Việt Nam phải đối đầu với cuộc tấn công của không lực Mỹ, của hạm đội 7 Hải quân Mỹ mới là hệ trọng, mới là chuyện vô cùng lớn mang tính sống còn.
Việt Nam quyết định tấn công tàu Maddox có nghĩa là chấp nhận cuộc đối đầu đó.
Điều rút ra từ quyết định của Việt Nam là, thứ nhất, về quan điểm quân sự, Hải quân Việt Nam dám đánh bất cứ lực lượng Hải quân nào dù về lý thuyết là không ai dám. Thứ hai, về quan điểm chính trị, đụng đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thì dù có bị trở về “thời kỳ đồ đá”, dù phải hy sinh tất cả, dân tộc Việt cũng không bao giờ khuất phục, quyết bảo vệ toàn vẹn giang sơn.
“Dám đánh”, “Không khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào”…là tính cách, là nét văn hóa, đã trở thành bản chất, truyền thống, gen di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của dân tộc Việt, quân đội Việt.
Sự chịu đựng của Việt Nam là có giới hạn.
Tình hình Biển Đông thời gian qua và đặc biệt khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 sâu trong EEZ và thềm lục địa Việt Nam, thì lịch sử có vẻ như lặp lại nhưng hơi trớ trêu khi Mỹ và Trung Quốc đổi vai cho nhau.
Mỹ ủng hộ Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan trở về nguyên trạng trước ngày 1/5 thì Trung Quốc lại đang thực thi chiến lược “phi quân sự” để xâm hại chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo của Việt Nam với một hành động hung hăng, bất chấp có tính chất khiêu khích trắng trợn, nguy hiểm trên vùng EEZ sâu trong thềm lục địa Việt Nam.. Sự nguy hiểm đến mức một tính toán sai lầm, thiếu kiềm chế của 2 bên thì sẽ gây ra xung đột quân sự lớn. Trung Quốc đang “nắn gân” và thử thách quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Thành phần hiếu chiến, “diều hâu” và các học giả quá khích ở Trung Quốc cứ mở miệng là dạy cho nước này, nước kia một bài học, chắc chẳng quan tâm đến sự kiện ngày 02/8 cách đây 50 năm về trước trên vịnh Bắc Bộ. Nên nhớ rằng, sự kiện ngày 02/8/1964 đến nay vẫn tươi nguyên giá trị.
Đừng nghi ngờ Việt Nam có dám đánh hay không dám đánh để bảo vệ chủ quyền mà vấn đề là giới hạn của sự chịu đựng Việt Nam đến đâu.
Trong lịch sử giữ nước hiện đại, tính đến thời điểm này, chưa lúc nào dân tộc Việt có một quân đội hùng mạnh như vậy. Đã không còn cảnh “gậy tre, chông tre, chống lại sắt thép của quân thù”. Mặc dù vũ khí hiện đại số lượng không nhiều, nhưng chất lượng và địa thế thuận lợi…quân đội Việt Nam đủ sức đương đầu với kẻ thù xâm lược. Do vậy, nếu phải đánh giặc thì đây là lần đánh giặc “nhàn” nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Dám đánh là quyền tự vệ chính đáng, bắt buộc của dân tộc trước quân xâm lược. Dám đánh có nghĩa như lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định rằng, từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự Việt Nam.
Sự chuẩn bị sẵn sàng từ tổ chức, xây dựng, bố trí lực lượng của Quân đội Việt Nam đã chứng tỏ không những quân đội Việt Nam dám đánh mà còn biết đánh để khiến cho kẻ thù phải trả giá đắt.
Vậy thì đâu là giới hạn chịu đựng của Việt Nam?
Việt Nam yêu chuộng hòa bình, quyết không bỏ qua một cơ hội hòa bình nào dù là mỏng manh, vì thế, khi quyết tâm xâm lược của kẻ thù không từ bỏ, bóng dáng của chiến tranh hiện hữu khiến không còn một cơ hội nào cho hòa bình, đó chính là giới hạn chịu đựng cuối cùng của Việt Nam.
Sẽ có người đặt ra câu hỏi trong tình hình căng thẳng hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc thì khi nào Việt Nam “không có một cơ hội nào cho hòa bình”(nghĩa là khi nào Việt Nam sẽ đánh nhau với Trung Quốc)?
Đây là một câu hỏi có tính thời sự mà rất nhiều người quan tâm, nhưng không đúng đối tượng, bởi lẽ, dân tộc Việt, bao đời nay luôn luôn không biết trả lời cho câu hỏi này. Tại sao ư? Nếu như trước tháng 12 năm 1946, nhiều người hỏi rằng, Việt Nam muốn hòa bình nên đã nhân nhượng, vậy nhân nhượng đến bao giờ? Bằng hành động lấn tới với một quyết tâm xâm lược Việt Nam, thì, “lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời đã chính thức kết thúc sự nhân nhượng. Vậy thì ai trả lời câu hỏi này đã rõ, chính là người Pháp.
Vì thế, câu trả lời này muốn biết thì hãy hỏi nhà cầm quyền Bắc Kinh. Họ sẽ có câu trả lời nếu như quyết tâm chiếm biển đảo của Việt Nam là không thể thay đổi, đã leo lên nấc thang cuối cùng.

Tất nhiên, quyết tâm xâm lược là một chuyện, kết quả ra sao lại là chuyện khác. Nếu như Thoát Hoan biết phải chui vào ống đồng, Liễu Thăng biết cửa ải Chi Lăng bị rơi đầu…thì chẳng kẻ nào dám quyết tâm xâm lược Việt Nam. Nhưng, đáng tiếc, đó là một căn bệnh di truyền của những kẻ luôn cậy thế hung hăng, ngang ngược.

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

CHIẾN LƯỢC “HÒA BÌNH CHỦ ĐỘNG” CỦA VIỆT NAM


Sự ủng hộ của bạn bè, dư luận trên thế giới cho chính nghĩa Việt Nam là chưa đủ. Việt Nam phải chủ động tham gia vào các cơ chế quốc tế về an ninh, chính trị mới có đủ sức mạnh bảo vệ hòa bình như mong muốn.


Hữu nghị viễn vông và nền hòa bình lệ thuộc.
“Thứ nhất, không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông); Thứ hai, không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tự nhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa); Thứ ba, không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải; Cuối cùng là không được phá bỏ mối quan hệ Việt Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ”.
 Đây là “4 không” mà Tân Hoa xã đưa ra trước chuyến đi của Dương Khiết Trì sang Việt Nam mang theo một thông điệp cứng rắn, ngang ngược, không thiện chí, trong các sai phạm của Trung Quốc trên Biển Đông.
Đương nhiên, thái độ, giọng điệu láo xược của đại Hán khi chưa bị “no đòn” qua giới truyền thông Trung Quốc (như Tân Hoa xã nêu trên…) và các học giả, tướng lĩnh khi “chưa thấy quan tài…” thì Việt Nam đã nghe quen tai từ lâu mà chúng ta không cần quan tâm. Vấn đề rất quan trọng ở đây là chúng ta nghe, hiểu, để biết được “nền hòa bình Trung-Việt” là nền hòa bình kiểu gì, mối quan hệ hữu nghị Việt-Trung là hữu nghị kiểu gì…để căn cứ vào thế, lực của chúng ta hiện nay đến đâu mà phấn đấu gìn giữ hay dứt khoát loại bỏ.
Từ năm 1949 đến năm 1979, quan hệ “hữu nghị” Việt-Trung đã quá rõ trong sách trắng “30 năm quan hệ Việt Nam-Trung Quốc”. Và từ đó đến nay sự “hữu nghị” của Việt Nam-Trung Quốc cũng quá rõ dù chưa viết thành sách. Vậy, một nền hòa bình trên nền tảng của mối quan hệ “hữu nghị” như thế sẽ là một nền hòa bình kiểu gì?
Tư tưởng đại Hán này của Trung Quốc chúng ta được biết qua “4 không” nêu trên là qua báo chí, nhưng chưa hết, chắc chắn sẽ còn phát tiết qua cấp “vĩ mô” mà người dân không được nghe, không biết…nhưng   
    như thế là đã quá đủ cho một nhận thức.
Thủ tướng Việt Nam tuyên bố: “…Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”. Đây là tuyên bố mà dân tộc Việt đã phải kiên trì, nhẫn nhịn, chờ đợi, là tuyên bố mà đồng bào Việt Nam, nhân dân Việt Nam  ai cũng hiểu sâu sắc nhất mà không cần giải thích, không cần thông tư, nghị định hướng dẫn nào hết. Không nghi ngờ gì nữa, dân tộc Việt đã kết thành một khối.
Có thể nói đây là một tuyên bố khẳng định tính minh bạch, ý chí và nguyện vọng, nguyên tắc nhất quán của Việt Nam trong mối quan hệ với Trung Quốc-một nước lớn láng giềng đầy duyên nợ.
Đừng có đặt vấn đề tại sao không phải là trước đây mà để đến tận bây giờ, bởi vì, nếu như đó là một cuộc cách mạng, một sự thay đổi…thì tất cả đều phải có sự chuẩn bị về lượng, có đủ lượng mới thay đổi được chất, phải có “giọt nước cuối cùng” để chuyển hóa… Cho nên, tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam, thay mặt Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đã xuất phát từ cơ sở vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, từ thế và lực của Việt Nam trong khả năng giữ vững nền độc lập tự chủ, khả năng xây dựng, duy trì một “nền hòa bình chủ động”…trong tình thế “giọt nước cuối cùng làm tràn ly” là giàn khoan Hải Dương 981 đã ngang ngược bất chấp hạ đặt trong thềm lục địa sâu trong EEZ của Việt Nam. Đó chính là thời cơ là vận nước đã đến.
Đã đến lúc Việt Nam phải chấp nhận “phẫu thuật” khối u dù phải đau và tốn kém.
Phải, không đau sao được khi nhìn một quả dưa hấu mà trâu bò ăn không hết ở cửa khẩu phía Bắc, không đau sao được khi những quả vải đỏ au của người dân đang nghẹn chật con đường, không đau sao được khi lúa của người nông dân bị mua với giá rẻ…Đau lắm, tốn kém lắm, nhưng phải “phẫu thuật” để chúng ta sẽ có một cơ thể khỏe mạnh, tự chủ…để con tim Việt Nam không bao giờ ứa máu như đã từng trước hình ảnh của “Vòng tròn bất tử Gạc Ma”.
Láng giềng hữu nghị và hòa bình chủ động.
Việt Nam chỉ không chấp nhận một quan hệ “hữu nghị viễn vông” nhưng rất muốn có một mối quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc. Đó là mối quan hệ “sớm tối tắt lửa tối đèn có nhau, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn (láng giềng), đồng thời tôn trong độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác phát triển đôi bên cùng có lợi.
Đương nhiên, nền hòa bình dựa trên nền tảng hữu nghị đó là bền vững cho 2 dân tộc.
Trung Quốc là nước lớn, là cường quốc, là quốc gia có “núi liền núi, sông liền sông” với Việt Nam. Việt Nam muốn hòa bình (với Trung Quốc), nhưng bản chất của Trung Quốc là không thay đổi là bành trướng, cậy mạnh, để thôn tính Biển Đông thì không bao giờ có một một mối quan hệ hữu nghị láng giềng thực chất, và do vậy, nền hòa bình với Trung Quốc chỉ có được cho Việt Nam là theo “kiểu Trung Quốc”, là thụ động, lệ thuộc mà thôi.
Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng một nền hòa bình không lệ thuộc thì chỉ còn cách là phải thực hiện chiến lược “hòa bình chủ động” để từ đó mới có được một nền hòa bình chủ động
Hòa bình chủ động là gì? Đó là, về đối nội phải tăng cường sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh, về đối ngoại là sự chủ động tham gia vào các cơ chế quốc tế về kinh tế đồng thời quan trọng hơn, là về cả an ninh lẫn chính trị.
Nền hòa bình chủ động chúng ta có được là bằng sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh, là ý chí, khả năng giáng trả để bảo vệ nó. Khác với nền hòa bình chủ động, nền hòa bình thụ động chỉ có được chỉ bằng sự nhân nhượng, đổi chác lợi ích.
Hãy xem Nhật Bản. Trên lý thuyết, được bảo vệ dưới cái ô an ninh của Mỹ, nước Nhật khó bị đe dọa, nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc cùng với các yêu sách chủ quyền hung hăng từ Bắc Kinh khiến cho nước Nhật chắc chắn không bao giờ chấp nhận một vai trò thụ động và trông chờ vào người Mỹ, ngay dù Mỹ là đồng minh, huống chi, thụ động trông chờ vào Trung Quốc-đối tượng tác chiến trực tiếp, như Việt Nam, thì lại càng không bao giờ. Mối quan hệ Nhật Bản-Ấn Độ, Nhật Bản-Úc, Nhật Bản-Philipines, Indonesia, Việt Nam để “hòa bình chủ động” với Trung Quốc chứng tỏ điều đó.

Trong khi đó, Việt Nam không có ô an ninh nào, nói cách khác là Việt Nam chưa có tham gia vào một “cơ chế” an ninh, chính trị nào trong khu vực. Nếu sức mạnh (tổng hợp) răn đe ngăn ngừa chiến tranh hạn chế, chưa đủ sức làm cho kẻ thù phải trả giá đắt không chịu đựng nổi thì một nền hòa bình Việt Nam có được với Trung Quốc cũng chỉ là thụ động mà thôi, không thể khác được, trừ phi Trung Quốc thay đổi bản chất. (Tiếp theo: Cơ chế an ninh nào phù hợp cho Việt Nam?)

Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

CÓ GAN ĂN CƯỚP MÀ KHÔNG CÓ GAN CHỊU ĐÒN!

Có gan ăn cướp thì có gan chịu đòn, nhưng Trung Quốc muốn cướp của người mà không muốn bị đòn nên...khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã chứng kiến đủ các chiêu trò của Trung Quốc khi tranh chấp và chiếm đoạt chủ quyền trên biển của các quốc gia khác. Trung Quốc có 3 bước thực hiện chiến lược chiếm Biển Đông.
Một là xác định khu vực chiếm đoạt bằng một loạt kế sách từ biến không thành có, từ khu vực không có tranh chấp biến thành khu vực có tranh chấp và cuối cùng là đánh dấu khu vực bằng bản đồ do mình tự vẽ…
Sau một thời gian triển khai với nhiều mưu mô chước quỷ, Trung Quốc đã trắng trợn tuyên bố cái “bản đồ chín khúc” mà theo đó toàn bộ Biển Đông thuộc Trung Quốc.
Hai là khẳng định chủ quyền bằng biện pháp phi quân sự như tuyên bố khu vực cấm đánh bắt, dùng tàu cá được bảo kê của các tàu chấp pháp tràn vào vùng biển nước khác ngang nhiên đánh bắt, hạ đặt giàn khoan vào sâu trong thềm lục địa của nước khác…
Tất cả 2 bước trên đều dựa trên một nền tảng là nước lớn cậy mạnh nên Trung Quốc tỏ ra rất hung hăng, ngang ngược, bất chấp.
Khi trên Biển Đông còn tồn tại quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam thì giải quyết vấn đề bằng phi quân sự của Trung Quốc với một Việt Nam kiên cường, có truyền thống chống xâm lược là không thể đạt được. Chính vì thế Trung Quốc buộc phải thục hiện bước thứ ba: Gây xung đột quân sự hạn chế hay thực hiện một cuộc chiến tranh với quy mô hạn chế để thôn tính hoàn toàn Biển Đông.
Chiến tranh hạn chế kiểu Trung Quốc.
Không phải bây giờ mà ngay từ đầu triển khai chiến lược biến Biển Đông thành “ao nhà” tư tưởng, quan điểm này của giới cầm quyền Trung Quốc đã biểu hiện rõ qua những tuyên bố của các học giả, tướng tá diều hâu và cơ quan ngôn luận của Đảng CS Trung Quốc như Hoàn Cầu thời báo…Họ cho rằng “thế năng chiến tranh trên Biển Đông là rất lớn nên đánh một trận nhỏ để không có trận lớn” hay "Trỗi dậy hòa bình không mâu thuẫn với sử dụng vũ lực, bảo vệ chủ quyền có thể nổ súng"…Và trong vụ hạ đặt giàn khoan phi pháp vừa qua, Trung Quốc đã cho tàu pháo áp sát tàu chấp pháp Việt Nam với độ sẵn sàng chiến đấu rất cao, nghĩa là có thể bắn vào tàu Việt Nam bất cứ lúc nào.
Như vậy có thể thấy rằng, vấn đề xung đột quân sự trên Biển Đông không phải là có xảy ra hay không mà trước sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc ngày càng tăng thì vấn đề chỉ là khi nào xảy ra xung đột mà thôi.
Chiến tranh hạn chế thực chất là một cuộc tấn công phủ đầu bằng quân sự chớp nhoáng đánh chiếm một mục tiêu mà buộc đối phương lựa chọn khắc nghiệt “mất nhiều hay mất ít” trước khi có hành động đánh trả.
Chiến tranh hạn chế được thực hiện khi Trung Quốc có khả năng gây áp lực rất lớn về kinh tế, chính trị, lên đối thủ, đồng thời có sức mạnh răn đe quân sự, mở rộng chiến tranh, là 2 đầu vào chính cho đối phương giải bài toán “mất nhiều hay mất ít”.
Đối phương chấp nhận sự “mất ít” là Trung Quốc thắng lợi và ngược lại thì Trung Quốc sẽ bị rất nhiều rủi ro, sa lầy hoặc trả giá đắt cho hành động quân sự gây ra. Vì thế, đương nhiên, khi hành động, Trung Quốc phải tính toán kỹ sức mạnh và đặc biệt là ý chí quyết tâm của đối thủ trong bảo vệ toàn vẹn chủ quyền…để ra tay.
Với Việt Nam, liệu Trung Quốc có tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế hay không?
Trên Biển Đông, mục tiêu chủ yếu và duy nhất cho Trung Quốc thực hiện học thuyết chiến tranh hạn chế này chính là các đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Thực tế là ngày 14/3/1988, Trung Quốc dùng 12 tàu chiến bất ngờ tấn công vào 3 tàu vận tải của Hải quân Việt Nam. Với cuộc đối đầu không cân sức này, Trung Quốc đã chiếm được đảo Gạc Ma và một số đảo khác của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa.
Có thể nói, đây là một kinh nghiệm bổ ích nhất cho Trung Quốc trong học thuyết chiến tranh hạn chế mà Trung Quốc đang hung hăng đe dọa áp dụng với các nước khác trong đó có Việt Nam. Quả thật lúc đó Việt Nam đang ở trong một tình cảnh cực kỳ khó khăn mà nếu như không phải là người dân Việt Nam thì sự chịu đựng trong thế ngặt nghèo đó là không thể, đất nước đại loạn, sụp đổ là không tránh khỏi. “Vòng tròn bất tử Gạc Ma” còn đó, dân tộc Việt Nam không bao giờ quên.
Giờ đây, nếu Trung Quốc dùng vũ lực tấn công đánh chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam thì có 2 sự lựa chọn xảy ra.
Một là Việt Nam chấp nhận “mất ít” mà không muốn chiến tranh vì phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Nguồn hy vọng của Việt Nam là đòi lại bằng “biện pháp hòa bình”.
 Đây là lựa chọn không thể xảy ra vì thế và lực của Việt Nam đã khác. Mất đảo là sự mất mát quá lớn đến chủ quyền thiêng liêng của quốc gia. Nếu Việt Nam cứ bám víu vào cái hữu nghị viễn vông, cái nền hòa bình lệ thuộc, chọn sự “mất ít” có nghĩa là “mất dần” thì Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam sẽ không được lòng dân tộc và đây cũng là cơ hội cho Trung Quốc thôn tính tiếp Biển Đông là điều mà lịch sử chống phong kiến phương Bắc từng cho ta một bài học.
Vì vậy, Việt Nam chỉ có lựa chọn cách thứ hai là, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không để biển đảo rơi vào tay Trung Quốc xâm lược. “Không đánh đổi chủ quyền bằng thứ hữu nghĩ viễn vông hay nền hòa bình lệ thuộc” là tuyên bố của lãnh đạo Việt Nam làm nức lòng dân tộc, được toàn dân nhất trí, ủng hộ.
Liệu Trung Quốc dùng “chiến tranh hạn chế” để buộc Việt Nam chọn sự “mất ít” như trước đây hay không thì qua vụ hạ đặt phi pháp giàn khoan trong thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc có thể nhận thức được vấn đề, song, cậy mạnh, chủ quan coi thường đối thủ là bản chất của kẻ xâm lược, cho nên, chúng ta không bao giờ nghĩ rằng Trung Quốc sẽ không gây xung đột quân sự đánh chiếm đảo của Việt Nam. Hàng loạt cuộc tập trận đánh chiếm đảo trên Biển Đông (đảo nào? nếu như không phải là Trường Sa?) không phải là để chơi. Trung Quốc sẽ hành động bất cứ khi nào mà Việt Nam mất cảnh giác, mất đoàn kết và khi “trái tim để lầm chỗ trên đầu”.
Tại sao Trung Quốc muốn chiến tranh hạn chế?
Nếu Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo của Việt Nam thì Việt Nam kiên quyết tự vệ, bảo vệ bằng được chủ quyền mà không chịu khuất phục. Tình thế đó buộc Trung Quốc không thể đánh nhanh, thắng nhanh và không hạn chế được phạm vi khu vực xảy ra tác chiến. Điều này có nghĩa là không có chuyện “đánh một trận nhỏ để không có trận lớn” như họ tưởng và tất nhiên, chiến tranh hạn chế bị phá sản.
Một cuộc chiến tranh không kiểm soát trên Biển Đông sẽ có 3 điều bất lợi xảy ra cho Trung Quốc. Một là, khuất phục được cả một dân tộc Việt đồng lòng là điều không thể cho bất cứ kẻ thù nào dù hung hãn đến đâu, cho nên, chiến tranh sẽ kéo dài là vô cùng nguy hiểm cho sự ổn định chính trị của Trung Quốc. Hai là, dòng hàng hóa, năng lượng khổng lồ qua Biển Đông sẽ gián đọan hoặc bị cắt đứt, Trung Quốc buộc phải phân tán lực lượng để bảo vệ hoặc chấp nhận nền kinh tế bị thảm họa là 2 tử huyệt mà Trung Quốc không có và chưa đủ khả năng chống đỡ. Ba là, sự gián đoạn hàng hải thương mại trên Biển Đông khiến Nhật Bản, Mỹ, Úc…phải ra tay can thiệp để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình sẽ tạo ra cho Việt Nam có nhiều đồng minh tự nhiên.
Đây là 3 lý do quyết định khiến Trung Quốc không muốn hay không dám tiến hành một cuộc chiến tranh lớn trên Biển Đông với Việt Nam.
Đánh chiếm đảo trên Biển Đông bằng một cuộc “chiến tranh hạn chế” hay “xung đột quân sự hạn chế” thực chất là một cuộc chiến tranh xâm lược, nó có 2 nội dung cơ bản là đánh chiếm và bảo vệ thành quả, trong đó bảo vệ thành quả có ý nghĩa quyết định.
Các đảo trên Biển Đông và ngay quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư thì khi tác chiến, bên phòng thủ không có lợi thế bằng bên tấn công. Bởi vậy, bất ngờ dùng vũ lực đánh chiếm được một hoặc hai đảo…trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đồng thời ngăn ngừa hay làm triệt tiêu ý chí phản công của Việt Nam bằng một loạt đối sách về kinh tế, ngoại giao, chính trị…là mục đích, yêu cầu, của cuộc “chiến tranh hạn chế” kiểu Trung Quốc là bước leo thang cuối cùng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Đương nhiên, Trung Quốc muốn là một chuyện, còn ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng lại là chuyện khác.