Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

CHỦ QUAN, MẤT CẢNH GIÁC VỚI TRUNG QUỐC LÀ TỰ SÁT


Đối đầu với Trung Quốc về quân sự Việt Nam không và chưa bao giờ sợ, nhưng làm ăn kinh tế với Trung Quốc mới thật nỗi lo lắng thường trực nếu như không muốn nói là nỗi sợ.

“Diễn biến hòa bình” Made in China!.
Mỹ tấn công I răc, Apganixtan… rồi gần đây Pháp, Ý tấn công Ly-bi không phải là để chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ mà cái họ cần đạt được là đánh đổ chế độ hiện tại, dựng lên một chính phủ mới “thân” họ, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu chiến lược kinh tế, quân sự của họ hiện tại và tương lai. Tuy nhiên việc sử dụng vũ lực cũng chỉ nhằm vào những quốc gia sợ chiến tranh, khả năng phản kháng của dân tộc thấp, còn thì thực hiện các “cuộc cách mạng màu” như thời gian gần đây tỏ ra vô cùng hiệu quả.
Việt Nam sau 1975 thực tế rõ ràng là có rất nhiều lực lượng thù địch hoạt động chống phá với mục đích là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lật đổ chế độ. Việt Nam gọi đó là “Chiến lược diễn biến hòa bình”.
Với sự đổi mới tư duy, đa phương hóa trong các mối quan hệ, Việt Nam đã từng bước hòa nhập vào thế giới. Những nước trước đây được coi là thù địch nay trở thành đối tác, thậm chí còn là bạn. Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trên thế giới khién áp lực “diễn biến hòa bình” giảm hẳn, nhưng có một sức ép khác-sức ép này nằm trong chiến lược thôn tính Việt Nam vô cùng thâm hiểm mà nhà cầm quyền Bắc Kinh từ xưa đến nay đã triển khai thực hiện từng giờ từng phút không bao giờ ngơi nghỉ.
Nếu như “chiến lược diễn biến hòa bình” nhằm mục đích lật đổ chế độ, xóa bỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam thì chiến lược thôn tính Việt Nam của Đảng Cộng sản Trung Quốc thâm và hiểm ở chỗ nó không lật đổ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà nó duy trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi đã bị thao túng. Bắc Kinh thực hiện dưới một chiêu bài mà ai cũng bị lầm tưởng, khiến mất cảnh giác, đó là, quốc gia có chế độ chính trị “giống nhau” do một “Đảng Cộng Sản lãnh đạo”, gọi nhau là “đồng chí”…để lợi dụng nước lớn, lợi dụng tính nhân ái, nhường nhịn, hòa hiếu và lúc khó khăn của của dân tộc Việt Nam để chèn ép, bắt nạt, mặc cả trên xương máu người Việt Nam vì quyền lợi của dân tộc mình. Phá hoại, lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam, bắt kinh tế Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc để khống chế chính trị, biến Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước, chính phủ Việt Nam thành tay sai “đồng chí tốt”, thành một công cụ pháp lý cho dã tâm bành trướng của mình.
Dùng vũ lực, nếu thắng lợi cũng để đạt được mục đích này, vậy cần chi phải dùng vũ lực. Đó là “chiến lược diễn biến hòa bình mang màu sắc Trung Quốc” hay là chiến lược thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh.
Cài thế chiến lược thôn tính Việt Nam
Một điều khẳng định là nếu Việt Nam không nghe theo sự điều khiển Trung Quốc là có chuyện, họ không để yên. Nói cách khác là nếu Việt Nam không thuần phục Trung Quốc là Trung Quốc gây căng thẳng, đe dọa và tiến hành chiến tranh, quy luật bao đời nay là vậy.
Năm 1979, Khơ me đỏ dưới sự chỉ đạo của quan thầy Trung Quốc dùng hàng chục sư đoàn quân hiếu chiến tấn công Việt Nam ở biên giới Tây Nam. Thật ra mà nói nếu như không để cho bọn Pol Pôt làm loạn ở Tây Nam của Việt Nam thì một ông Đặng chứ 10 ông Đặng ngay cả suy nghĩ cũng không dám nghĩ đến tấn công Việt Nam.
Thế 2 gọng kìm phía Nam và Tây áp sát Việt Nam là nước cờ rất hiểm cho nên từ thời ông cho đến thời cha giới cầm quyền Trung Quốc cứ nhăm nhe bám lấy để chơi nước cờ này mà không bao giờ từ bỏ. Campuchia, Lào hiện nay đang được Trung Quốc tìm mọi cách bành trướng và thôn tính để áp dao vào sườn Việt Nam.
Trong nước, Trung Quốc đã thuê đất “trồng rừng” ở những vị trí xung yếu biên giới như Lạng sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng. Tại Nghệ An họ thuê gần với đường 7, đường 8 sang Lào, những vùng như Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp được coi như phên dậu quốc gia cũng được thuê. Tại Quảng Nam họ thuê gần khu vực có đường thuận tiện lên Tây Nguyên và Căm pu chia… Bất kỳ người Việt Nam nào có chút hiểu biết về quân sự cũng đều hoảng hốt và toát mồ hôi hột. (trong khi đó điều lạ lùng khó tin là cấp chủ tịch tỉnh thông thường đều phải qua Học viện quốc phòng) Lưu ý là những khu vực mà họ thuê, người Việt Nam không được bén mảng vào thì…cả xe tăng Trung Quốc cũng có thể ém sẵn trong khu vực “trồng rừng” của họ.
Ngay bên cạnh quân cảng Cam Ranh trước khi tàu ngầm Việt Nam xuất hiện đã có người Trung Quốc nuôi cá bè và chắc là đã cài cắm hệ thống trinh sát, phát hiện tàu ngầm KILO mà không kịp thời đuổi đi thì cực kỳ nguy hiểm.
Vị trí Tây Nguyên, nơi mà các nhà quân sự cho rằng ai chiếm được nó là làm chủ toàn Đông Dương và Vũng Áng-Hà Tĩnh, điểm dễ đổ bộ chia cắt đất nước ra làm đôi thì Trung Quốc đã, đang tìm cách đặt chân vào và có sự hiện diện rất nhiều người Hán.
Về kinh tế. Quả thật, đối đầu với Trung Quốc về quân sự Việt Nam không và chưa bao giờ sợ. Nhưng làm ăn kinh tế với Trung Quốc mới thật nỗi sợ. Nếu Việt Nam cảnh giác với Trung Quốc như đã từng cảnh giác với phương Tây trong chiến lược diễn biến hòa bình thì không hề gì, đằng này Trung Quốc lợi dụng “16 chữ vàng và 4 tốt” để che đây dã tâm, một số quan chức bộ ngành Việt Nam vì quyền lợi cục bộ, cá nhân mà coi nhẹ an ninh quốc gia.
Tính đến năm 2011 đã có tới 90% các công trình khai khoáng, luyện kim, dầu khí, hóa chất đều do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận. Có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia. Xét về điện đã có nhiều dự án tỷ đô la rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tiêu biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD; điện Mỹ Tân 2 với số vốn 1,3 tỷ USD; điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD.
Vấn đề cần đặt ra là: Tại sao và Trung Quốc muốn gì?. Trước hết phải hiểu vì sao các doanh nghiệp của Trung Quốc trúng thầu, vì họ bỏ giá rẻ. Bỏ giá rẻ là lỗ, chẳng có doanh nghiệp nào điên khùng như thế nhưng các doanh nghiệp của Trung Quốc thì không. Miễn sao trúng thầu, trúng thầu rồi, sau một thời gian thì họ báo đội giá (vậy thì đấu thầu có ý nghĩa gì?) rồi làm đến đâu là quyền của họ, ai dám phê phán để ảnh hưởng đến tình hữu nghị Trung-Viêt!
Việc một công trình, dự án có giá rẻ chỉ là cái lợi nhỏ và có thể lợi lớn cho các quan chức tham nhũng, nhưng cái giá mà xã hội và an ninh đất nước phải trả là quá đắt.
Thứ nhất là hầu như các dự án đó có tiến độ rất ì ạch, khi hoàn thành thì vận hành gặp rất nhiều trục trặc, phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc.
Thứ hai là họ không thuê lao động là người Việt Nam mà họ đem người Trung Quốc sang hàng ngàn người nhằm thực hiện chính sách di dân. Nguyên ngoại trưởng Mỹ, bà H.Clinton chẳng đã từng vạch mặt gọi Trung Quốc là thực dân ở châu Phi đó sao!.
Đến đây chúng ta tự hỏi nếu như xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam thì các ngành công nghiệp quan trọng mà Trung Quốc trúng thầu có phát huy hết công suất để phục vụ cho chiến tranh hay là đóng cửa? An ninh năng lượng của Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc thì liệu Trung Quốc có “quên” không, khi chiến tranh nổ ra? Hàng ngàn lao động phổ thông trai tráng của Trung Quốc nó sẽ làm gì, trong khi chưa có chiến tranh mà đã ngỗ ngáo làm loạn lên, gây mất an ninh trật tự như ở phố Ninh Bình và một số nơi khác?
Trung Quốc đã, đang, tạo nên một sức ép rất lớn lên Việt Nam. Và, có thể nói, Việt Nam phải đối phó với rất nhiều mũi nhọn mà Trung Quốc chĩa vào chứ không phải chỉ riêng ở Biển Đông.
May thay, tất cả những âm mưu thủ đoạn của Trung Quốc không lọt qua con mắt cảnh giác ngàn đời của Việt Nam. Có được một thế và lực như hôm nay để sẵn sàng, tự tin, đối phó với Trung Quốc khi tình huống xấu nhất có thể xảy ra trên mặt trận kinh tế, quân sự...chứng tỏ không ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam.
Rung chấn từ giàn khoan Hải Dương 981
Nếu như sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc khiến Nhật Bản thay đổi Hiến pháp hòa bình thì sự hung hăng, ngang ngược, bất chấp của Trung Quốc gần đây nhất trong vụ hạ đặt giàn khoan phi pháp trong thềm lục địa Việt Nam đã  như giọt nước cuối cùng làm đầy ly.
Thủ tướng Việt Nam tuyên bố: “Không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng bằng thứ hữu nghị viễn vông hay hòa bình lệ thuộc nào đó”.
Đây là một tuyên bố mà theo đánh giá của tôi thì nó có ý nghĩa đánh dấu lịch sử như bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, nó chấm dứt một giai đoạn đầy biến cố thăng trầm trong quan hệ Trung-Việt.
Nếu như Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh ra nước Việt Nam nhưng trong 30 năm dân chủ cộng hòa, Việt Nam luôn bị bóng dáng Trung Quốc đè nặng…thì hôm nay thế hệ con cháu của Người đã chính thức tuyên bố thoát ra khỏi cái ám ảnh phải lệ thuộc Trung Quốc, một láng giềng đầy dã tâm.

Khó khăn lớn sẽ đến với chúng ta, thậm chí chiến tranh có thể xảy ra, nhưng muốn tự do, muốn độc lập dân tộc, muốn có sự thay đổi, phát triển thì phải dứt khoát thay đổi tư duy. “Không có gì quý hơn Độc lập, tự do” thì sẵn sàng chấp nhận mọi giá để có độc lập, tự do.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

TẠI SAO GIÀN KHOAN HẢI DƯƠNG 981 CHUYỂN VỊ TRÍ?



Trung Quốc tuyên bố giàn khoan Hải Dương 981 sẽ rời đi vào ngày 15/8 sau khi hoàn thành khảo sát. Tuy nhiên mới đến ngày 27/5 họ phài lùi ra xa dù còn trong thềm lục địa Việt Nam. Tiếp tục chưa đến một tuần, theo quan sát của tàu CSB Việt Nam, giàn khoan lại chuyển vị trí và có khả năng còn chuyển vị trí nữa.
Hạ đặt giàn khoan, chưa nói đến khoan thăm dò, phức tạp bao nhiêu thì khi rút khoan di dời đến vị trí khác thì cũng phức tạp bấy nhiêu. Hải Dương 981 được cố định bằng 12 chiếc neo với mỗi sợi xích neo dài 3000m thì khi thu neo buộc Hải Dương 981 phải lần lượt nhả bên này thu bên kia, do đó lực lượng chấp pháp của ta phát hiện giàn khoan dịch chuyển trong phạm vi 150-200m là chính xác.
Các nhà chuyên môn khẳng định chắc chắn là giàn khoan Hải Dương hạ đặt các vị trí trong thềm lục địa Việt Nam không phải để khoan tìm dầu mà vì mục đích tranh dành chủ quyền, cho nên, căn cứ vào vị trí di chuyển của giàn khoan vừa qua thì chứng tỏ chúng cũng không phải hạ đặt để khoan tìm dầu. Vậy, sự di chuyển vị trí này vì nguyên nhân gì, chính trị hay quân sự hay nguyên gì khác?. Và, đây là điều chúng ta mới quan tâm, tìm hiểu, nhận định, theo góc nhìn của người lính.
Thứ nhất, Trung Quốc ngang ngược, cậy mạnh, là đúng rồi vì Việt Nam ta đã hơn 20 lần làm việc với họ để yêu cầu họ rút giàn khoan nhưng họ bất chấp. Vậy tại sao khi chuyển vị trí giàn khoan, Trung Quốc lại không tiến sâu thêm vài hải lý mà lại lùi ra xa dù còn trong thềm lục địa Việt Nam có vẻ như phải xuống thang, có vẻ như không hợp logic với sự hung hăng cậy mạnh?
Rõ ràng là Trung Quốc, qua việc hạ đặt giàn khoan để chứng minh cho Việt Nam thấy là “Trung Quốc muốn khoan đâu cũng được”, cho nên, tiến sâu vào dù 1 hải lý thôi cũng mang ý nghĩa là tăng sức nặng cho “điều cần chứng minh” và tác động rất mạnh đến Việt Nam, nhưng, lùi ra xa bao nhiêu hải lý chăng nữa mà còn trong thềm lục địa Việt Nam cũng đều không có ý nghĩa gì với Việt Nam ngoại trừ khi giàn khoan lùi ra khỏi thềm lục địa Việt Nam.
Với hơn 100 tàu chiến , Hải giám, Hải cảnh và máy bay các loại bao quanh giàn khoan tạo ra một vành đai bảo vệ từ 6-7 hải lý thì tàu CSB, KN Việt Nam nhỏ, ít, là khó có thể áp sát giàn khoan và do vậy tiến vào sâu hơn 1 hải lý là không vấn đề với lực lượng phi pháp của Trung Quốc. Như vậy, Trung Quốc lùi giàn khoan ra phía ĐN đảo Tri Tôn 25 hải lý không phải vì thế giới lên án mạnh mẽ, dân Việt Nam biểu tình kết nối làn sóng yêu nước…hay như Trung Quốc nói là tiến hành giai đoạn 2…mà chỉ vì nguyên nhân an toàn cho Hải Dương 981.
Còn nhớ, phải có một Điện Biên Phủ, Pháp mới chịu ký vào Hiệp định Geneva, phải có một Điện Biên Phủ trên không, Mỹ mới chịu ký vào hiệp định Pari. Đối với vụ hạ đặt giàn khoan trái phép thì phải chăng trước đó, giàn khoan Hải Dương 981 đã bị có sự cảnh cáo nghiêm khắc, sự răn đe mạnh?. Và, chưa đầy 1 tuần sau khi chuyển vị trí thì HD 981 thay đổi tiếp vị trí đã chứng tỏ khả năng này là đúng.
Nhiều người đặt vấn đề là liệu tàu quân sự Trung Quốc mở tháo bạt che vũ khí thì có tấn công tàu chấp pháp Việt Nam khi tiến sâu áp sát giàn khoan hay không? Với nhãn quan của một người lính, tôi cho rằng, với tính hung hăng, ngạo mạn, “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”, thì tàu chiến Trung Quốc có thể hành động như trong sự kiện Trường Sa năm 1988 khi nổ súng vào tàu vận tải Việt Nam, nhưng trong tình thế hiện nay, khi giàn khoan Hải Dương 981-số tiền cược quá lớn còn đó, trong tầm hỏa lực Việt Nam thì tàu quân sự Trung Quốc chỉ diễu võ dương oai. Nếu nổ súng trước bắn chìm tàu chấp pháp Việt Nam thì coi như tự sát giàn khoan tỷ USD của mình. Tất nhiên, Trung Quốc thừa biết là lượng lượng chấp pháp Việt Nam không chỉ một mình trên Biển Đông, đằng sau họ là lực lượng Hải quân, không quân và tên lửa đang chăm chú theo dõi với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao nhất
Vì vậy, với lực lượng chấp pháp Việt Nam thì tàu chiến, máy bay Trung Quốc lượn lờ, bay thấp, không làm họ cảnh giác cao độ và có thể nói chỉ chứng tỏ thói hung hăng cậy mạnh, đe dọa sử dụng vũ lực của Trung Quốc cho dư luận thế giới biết mà thôi.
Tuy nhiên, trong số tàu chiến Trung Quốc tung ra bảo vệ giàn khoan thì có 2 chiếc là tỏ ra có tác dụng, đó là 2 tàu rà quét mìn xuất hiện vào ngày 26/5 trước 1 ngày giàn khoan chuyển vị trí. Đây là điểm mà lính tráng chú ý nhất trong khi các chính khách thì ít để ý.
Tàu chiến Mỹ khi bị đặc công nước Việt Nam đã áp mìn vào thân tàu và khi hệ thống chống tháo gỡ của mìn đã kích hoạt thì dù phát hiện ra bao lâu trước khi mìn nổ thì cách tốt nhất, hợp lý nhất, vẫn là cách chuẩn bị phao cứu sinh. Hàng đêm, tàu chiến, tàu vận tải Mỹ nhổ neo thay đổi vị trí liên tục đã gây không ít khó khăn cho đặc công nước xác định mục tiêu…phải chăng là bài học cho giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc trên Biển Đông?
Thứ hai là giàn khoan Hải Dương 981 sẽ di chuyển đến Trường Sa như một số chuyên gia nhận định?

VIỆT NAM LẠI XUẤT HIỆN MỘT “NGỌN NÚI LỬA PHỦ ĐẦY TUYẾT”?



Hai cuộc kháng chiến giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn, hồn thiêng sông núi đã sinh ra một vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, một “ngọn núi lửa phủ đầy tuyết”. Nhớ thay, “ngọn núi lửa phủ đầy tuyết” đó đã vĩnh viễn ngủ yên trong lòng đất mẹ trong khi Tổ quốc đang bị quân thù nhòm ngó…
Có lẽ tôi, một người lính chiến, sẽ không viết bài này khi không đọc được trên trang mạng một số người hết kích động Việt Nam đánh nhau với Trung Quốc rồi chuyển sang khích bác ông Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam là “hèn”, “quan văn ngồi nhầm chỗ quan võ”…trong bài phát biểu của ông trên diễn đàn an ninh khu vực tổ chức tại Shingri-La vừa qua. Lính là phải bảo vệ lẽ phải, đó là danh dự.
Trên chiến trường, những vị tướng nào được quân lính yêu mến, kính trọng…ngoài tài năng ra thì tư tưởng quý trọng giọt máu của người lính như máu của con em mình quyết định nên điều “tướng lĩnh phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.
Đánh nhau ai chết trước? Lính (thanh niên trai trẻ) và nhân dân chết trước vì thế càng tránh cho lính chết, dân chết mà vẫn bảo vệ được chủ quyền thì tìm mọi cách để tránh, đó là cái TÂM của người làm tướng, nói cách khác là “văn trong võ”. Còn khi không tránh được, đã bắt buộc thì mới phải đưa nhân dân và người lính của mình vào cuộc chiến tranh. “Các cậu, hết cách rồi, vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, đánh nhau thôi”, lúc đó lính tráng sẽ dạ ran, toàn quân một lòng và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Tướng Thanh hèn à? Ai dám chê tướng Thanh hèn? Các vị có biết danh hiệu “Dũng sỹ đường 9” là gì không? Các vị có biết, được phong danh hiệu Anh hùng LLVT khi mới giữ chức trung đội trưởng trong năm 1971 khi Mỹ đang làm mưa làm gió trên chiến trường miền Nam là như thế nào không? Tiểu sử của tướng Thanh đó, ông đi lên từ một anh binh nhì trên chiến trường khốc liệt mà chắc chắn là không ít lần vác xác đồng đội trên vai.
Đã từng là một trinh sát lính thủy đánh bộ trên chiến trường K, tôi hiểu nguy hiểm, ác liệt lúc đó so với chống Mỹ chỉ bằng một phần trăm, cho nên hết sức kính nể những vị tướng từng trải qua thời chống Mỹ.
May mắn cho Việt Nam ta, đất nước đang trong tình trạng quân thù nhòm ngó thì các vị tướng lĩnh cấp cao, lãnh đạo cấp cao đều đã kinh qua chiến tranh tàn khốc nhất, dày dạn kinh nghiệm và bản lĩnh
Trở lại bài phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh.
Trước hết mà nói, nếu như ai đó cho rằng bài nói của bà Phó Oánh hay của Phó tổng tham mưu trưởng PLA trên Shingri-La vừa qua là hoàn toàn theo ý của họ là cạn nghĩ, loại người có tư tưởng dân chủ quá trớn. Phó Oán nói, phó TTMT nói chính là Trung Quốc nói.
Còn bài phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh cũng vậy thôi, đó là Việt Nam nói, là Đảng CSVN nói. Không thể có chuyện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hay chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội nói sai đường lối chủ trương của Đảng, Bộ chính trị.
Nhiều kẻ cố tình tung tin bịa đặt phỏng đoán là ông thủ tướng nói vậy mà ông Tổng bí thư, ông chủ tịch nước…im re chắc là có mâu thuẫn nội bộ…là kẻ đó muốn chia rẻ, kích động dân chúng thiếu lòng tin về lãnh đạo cao nhất để dâng nước cho giặc hoặc lợi dụng đục nước béo cò hoặc là những kẻ Việt gian. Tin điều đó là ngây thơ, ấu trĩ.
Bài phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh (Thực chất được thông qua Bộ thống soái tối cao rồi), theo quan điểm của tôi thì Việt Nam đã phán đoán đúng thái độ của Nhật Bản, Mỹ…trong diễn đàn sắp tới nên đã chọn nội dung chuyển tải rất hợp lý và khôn ngoan. Mà quả thật, sau vụ giàn khoan mới thấy cái gen chỉ đạo, lãnh đạo “toàn quốc kháng chiến” của Đảng CS Việt Nam, Nhà nước Việt Nam là có thật. Phối hợp rất nhịp nhàng, bài bản từ trên xuống dưới theo một nguyên tắc, tư tưởng định sẵn.
Thủ tướng Việt Nam tuyên bố “vì chủ quyền thiêng liêng quyết không chấp nhận đánh đổi hòa bình, hữu nghị viễn vông lệ thuộc”; “Việt Nam muốn hòa bình để phát triển nên còn một cơ hội hòa bình nào dù là mỏng manh để tránh khỏi chiến tranh thì Việt Nam vần không bỏ qua”; “giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình nhưng sẵn sàng tự vệ”; “chỉ cần dòng hàng hóa khổng lồ trên Biển Đông bị gián đoạn thì kinh tế khu vực và một số nước bị thảm họa”; “bảo vệ và tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư”…Đó là tư tưởng chỉ đạo và nguyên tắc bất di bất dịch của Đảng, Nhà nước và chính phủ.
Đấu tranh của Bộ Ngoại giao đã có sự đanh thép hiếm thấy với Trung Quốc, lên án mạnh mẽ sự ngang ngược vô nhân đạo, phi pháp xâm phạm chủ quyền quyền chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Trên nền đó, ngoại giao quốc phòng mà đại diện là tướng Nguyễn Chí Vịnh lại có nét đặc thù, khác biệt. Theo dõi các bài trả lời phỏng vấn trong nước, ngoài nước của tướng Vịnh người ta cảm thấy có sự khát khao cháy bỏng đến hòa bình, sự mềm dẻo như nhung lụa, nhưng ẩn chứa trong đó là những mạt kim cương rắn hơn sắt thép.
Tại diễn đàn an ninh khu vực Shingri-La, cứ như thái độ của tướng phó tổng tham mưu trưởng Trung Quốc “sùi bọt mép”, hiếu chiến, hung hăng, ngạo mạn, Bộ trưởng QP Việt Nam phản ứng đáp trả thì dư luận thế giới, giới kinh doanh, đầu tư sẽ nghĩ gì? Chắc là không còn “biện pháp hòa bình” nào nữa, Việt Nam và Trung Quốc đánh nhau sắp đến rồi. Nhưng giọng điệu, lời lẽ của Việt Nam, của vị Đại tướng đứng đầu một đội quân “bất bại” lại ôn hòa, mềm dẻo, nhưng ý chí lại kiên định trong mục tiêu yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan ra khỏi thềm lục địa Việt Nam đã khiến cho dư luận, giới kinh doanh và các quốc gia khác tin rằng Việt Nam đã đang và sẽ phấn đấu bằng biện pháp hòa bình hay ít nhất là họ yên tâm với một vị tướng đã dạn dày chiến trận như vậy thì khó có thể để những “tính toán sai lầm xảy ra xung đột”. Sự nhạy cảm, khôn khéo của ngoại giao quốc phòng là vậy đó.
Trên Biển Đông, thực tế thì như ta thấy, Việt Nam đang thể hiện một ý chí quyết tâm cao độ, không chùn bước trước Trung Quốc có lực lượng đông mạnh hơn nhiều lần, hành động quyết liệt nhưng tỉnh táo, dù phải chịu nguy hiểm, hy sinh đến tính mạng, buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan. Lực lượng của ông Thanh cả đấy.
Trung Quốc đã rút lùi giàn khoan, tuy còn trong thềm lục địa Việt Nam thay vì tiến sâu thêm như thái độ ngạo mạn, hung hăng vốn có của họ. Thắng lợi trên chiến trường quyết định trên bàn đàm phán. Thắng lợi của Việt Nam là đánh sập ý chí, thái độ hung hăng, ngạo mạn, đó là không thể “muốn khoan đâu cũng được” của đối phương. Quân của ông Thanh làm cả đấy.
Ai đó có thể chê tướng Thanh có mưu lược kém, không bằng người này, người kia nhưng chê tướng Thanh-Bộ trưởng QP Việt Nam hèn trước kẻ thù thì đó là kẻ đã già nua bại não, những kẻ khác có đầu óc hơn thì chỉ vì không mấy thích thú chế độ này, luôn mồm ra rả trên RFA...với mục đích Việt Nam sắp đầu hàng Trung Quốc rồi, nhân dân ơi hãy đứng lên lật đổ chế độ này đi…Luận điệu đã “xưa như Diễm”, chẳng ai ngu mà tin.
Thời thế tạo anh hùng, đất nước trước họa xâm lăng đang xuất hiện “một ngọn núi lửa phủ tuyết” tiếp theo.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

VIỆT NAM TRUNG LẬP HAY LIÊN MINH?


Điều khẳng định chắc chắn là: Bất luận liên minh hay hợp tác với ai, như thế nào…thì để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam chỉ có thể và luôn luôn bằng máu của người Việt Nam.
Cục diện địa chính trị, quân sự khu vực biến chuyển mau lẹ bắt đầu từ sự kiện Trung Quốc đã lộ mặt bành trướng, bá quyền nước lớn, bất chấp pháp luật quốc tế khi ngang ngược hạ đặt giàn khoan sâu trong thềm lục địa Việt Nam; việc bắt tay của Trung Quốc và Nga sau sự kiện Ukraine đến việc xoay trục của Mỹ sang Châu Á-TBD của Mỹ…đang đặt Việt Nam vào những thế ứng xử ngoại giao vô cùng tế nhị và khó khăn.
Việt Nam phải làm gì để vừa bảo vệ được độc lập và các lợi ích dân tộc, vừa bảo vệ được hòa bình để ổn định phát triển? Đó câu hỏi có tính thời sự mang tầm quốc gia mà để trả lời vô cùng khó và khó có nghiệm đúng tuyệt đối trong bối cảnh thế giới đang vận động vô cùng nhanh chóng với rất nhiều quỹ đạo chính trị, kinh tế, quốc phòng...khác nhau.
Đối sách “trung lập” chỉ là “đi trên dây”.
Tại khu vực Châu Á-TBD mà Trung Quốc có tranh chấp và đe dọa vũ lực với Nhật Bản, Việt Nam…thì Trung Quốc luôn muốn Mỹ và các cường quốc khác như Nga, Ấn Độ… trung lập. Bởi vì họ là cường quốc mà ủng hộ bên nào thì so sánh lực lượng sẽ nghiêng về bên đó, cho nên, vai trò trung lập chỉ có thể dành cho các nước lớn và chỉ họ mới có cơ hội và điều kiện để sử dụng sách lược trung lập. Một nước nhỏ, yếu, mà thực hiện sách lược trung lập chẳng khác nào đi trên dây, rất nguy hiểm, nó chẳng có một chút giá trị, sức nặng gì với các nước lớn. Điều đó có nghĩa là nước nhỏ không quyết định được trung lập, không ai cho phép anh quyền đó. Campuchia của ông Hoàng Sihanouk là một ví dụ.
Ông Hoàng Sihanouk tự hào về chính sách trung lập khôn khéo để khỏi sa vào cuộc chiến tranh trên bán đảo Đông Dương. Nhưng đất nước Campuchia vẫn bị đưa vào cuộc chiến đẫm máu có tính diệt chủng, trước tiên bởi cuộc đảo chánh của Lon Nol vào năm 1970, khiến ông Hoàng mất ngôi. Rồi từ Bắc Kinh trở về nước hô hào ủng hộ Khmer đỏ, chẳng bao lâu phải chạy sang Bình Nhưỡng sống lưu vong trong khi hơn 3 triệu người dân bị Khmer đỏ sát hại.
Với Việt Nam, đương nhiên, về nguyện vọng thì Việt Nam thiết tha muốn được hòa bình, không theo ai để chống ai bằng đường lối đối ngoại muốn là bạn với các quốc gia trên thế giới và chính sách quốc phòng “ba không” mà Việt Nam đang phấn đấu hướng tới trong thời gian qua, bởi chiến tranh, Việt Nam quá hiểu nó như thế nào. Nhưng, ai cho Việt Nam thõa mãn được nguyện vọng đó?
Lịch sử đã chứng tỏ Việt Nam bị buộc phải tiến hành chiến tranh chống xâm lược liên miên. Từ bọn phong kiến phương Bắc cho đến chủ nghĩa đế quốc thực dân cũ, mới, dù rằng dân tộc Việt không hề khiêu khích, gây chiến với bọn chúng. Vì sao ư? Vì Việt Nam nằm ở một vị trí có địa chính trị, địa quân sự, địa kinh tế cực kỳ quan trọng trong khu vực Châu Á-TBD lại chưa giàu mạnh lắm nên bị các thế lực lớn ức hiếp, muốn chiếm đoạt.
Tình hình hiện nay, khi một đế chế thực dân kiểu cũ Trung Quốc trỗi dậy thì Việt Nam tiếp tục là nạn nhân. Trung Quốc muốn biển Đông Việt Nam thành “ao nhà” để phục vụ cho giấc mộng bá chủ khu vực, thách thức địa vị thống trị của Mỹ.
Vậy là Việt Nam một lần nữa lại “nằm giữa” 2 thế lực đối địch Trung-Mỹ, Trung-Nhật và các thế lực khác. Muốn là bạn với Trung Quốc ư? Muốn trung lập, không theo ai để chống ai bằng chính sách quốc phòng “ba không” ư? Thực chất, đó là chính sách hòa bình, nguyện vọng hòa bình, nhưng kẻ thù không muốn cho Việt Nam hòa bình, yên ổn vì chúng muốn xâm lược chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thì Việt Nam buộc phải lựa chọn biện pháp khác để tạo ra sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Rõ ràng, Việt Nam không bao giờ thực hiện được đối sách trung lập bới một khi Trung Quốc đã lộ nguyên hình đang rắp tâm đánh chiếm biển đảo của Việt Nam. Việt Nam chỉ còn một con đường là chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu quân thù xâm phạm bờ cõi.
Liên minh với ai, như thế nào và lúc nào?
Điều khẳng định chắc chắn là: Trong tình hình hiện nay, bất luận liên minh với ai, như thế nào…thì để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam chỉ có thể và luôn luôn bằng máu của người Việt Nam. Và, chỉ có Quân đội Nhân dân Việt Nam dưới sự tổ chức, chỉ huy, lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm chiến tranh của Đảng CSVN mới đủ sức đương đầu và đánh thắng kẻ thù xâm lược.
Việc Trung Quốc đã lộ rõ dã tâm khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam trong khi Nga –Trung bắt tay nhau… thì có một số dư luận nghi ngờ mối quan hệ Nga-Việt, cho rằng Nga đã “phản bội Việt Nam”, muốn rằng phải liên minh ngay với Mỹ để chống Trung Quốc theo cách thức mong muốn là nếu Trung Quốc xâm lược chủ quyền biển đảo Việt Nam thì Mỹ “bảo vệ” và “cùng Việt Nam đánh Trung Quốc”(!). Nào là chỉ có Mỹ mới giúp Việt Nam chống được Trung Quốc(!) Nào là hăm hở hô hào vận động chữ ký để Mỹ cấm vận kinh tế Trung Quốc(!) trong khi kim ngạch thương mại Trung-Mỹ lên tới 500 tỷ USD, một con số khổng lồ(!).
Nhật Bản dù đã thành một cường quốc kinh tế nhưng với liên minh quân sự Mỹ-Nhật và để có một khẳng định “nửa vời” của Mỹ trong vấn đề Senkaku thì Nhật Bản cũng đã phải “câm lặng nuốt máu và nước mắt trộn lẫn đắng cay nhục nhã vào trong” suốt 69 năm qua. Mỹ chẳng cho không ai cái gì bao giờ. Mỹ có lợi ích gì để đổ máu đánh Trung Quốc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam trong khi có cùng 80% lợi ích với Trung Quốc? Vậy, muốn thế, đổi lại, Việt Nam phải “chia xẻ lợi ích” của mình cho Mỹ như thế nào để thỏa mãn lợi ích cân bằng?
Chỉ nói đến chuyện cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam, điều kiện của Mỹ để bỏ cấm vận là “nhân quyền” mà thực chất sâu xa là “chế độ chính trị” Việt Nam, thì thử hỏi để được Mỹ đổ máu thì “lợi ích mà Việt Nam phải chia xẻ” là gì?
Việt Nam luôn xét tới tầm quan trọng của việc bình thường hóa, quan hệ tốt đẹp với Mỹ không phải bây giờ, sau vụ giàn khoan, mà từ trước nay. Nhưng kết quả mới đạt được như hiện tại chỉ những người có lòng tự trọng, tự tôn dân tộc mới thấm hiểu. Nên nhớ rằng, Việt Nam chẳng là gì hết trong mắt Mỹ so với Trung Quốc.
Hiện nay là thời điểm tốt cho phát triển quan hệ Việt-Mỹ và chỉ cần Mỹ ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong 20% xung đột lợi ích với Trung Quốc còn lại của Mỹ là quý lắm rồi. Chúng ta tin tưởng khi lợi ích chung của Mỹ và Trung Quốc giảm dần theo đà thách thức vai trò thống trị thế giới của Mỹ thì hợp tác Việt-Mỹ có cơ hội để phát triển.
Với Liên bang Nga, việc Nga bắt tay với Trung Quốc là tất yếu khác quan, là bước đi thích hợp để chống lại Mỹ và phương Tây đang cô lập, trừng phạt Nga. Tuy nhiên nếu nói rằng bắt tay với Trung Quốc thân thiết hơn để từ bỏ mối quan hệ truyền thống, đặc biệt với Việt Nam thì quả là hời hợt, rồ dại, đó chỉ là luận điệu gây chia rẻ, nghi ngờ mối quan hệ Nga-Việt. Nga im lặng khi Trung Quốc ngang ngược hạ đặt giàn khoan không có nghĩa là chống Việt Nam, không ủng hộ Việt Nam, cũng như Việt Nam bỏ phiếu trắng trong vụ Crimea mà thôi, Nga có cái khó của Nga.
Nga và Trung Quốc không phải là liên minh quân sự, nên họ đều có tính toán lợi ích quân sự khác nhau. Trung Quốc là đối tác nhưng Nga thừa biết sẽ là nguy cơ đối đầu trong tương lai. Vì thế, quan hệ Nga-Việt là có tính chất “đồng minh” nhất mà Nga phải hướng tới trong ngắn hạn cũng như dài hạn.

“Lời nguyền” từ Nhật Bản
Rốt cuộc, hiện nay thì liên minh theo nghĩa hợp tác Việt Nam-Nhật Bản là hiện thực hợp lý nhất vì cả 2 đều cần nhau, cùng lợi ích và cùng kẻ thù chung. Sự hợp tác chặt chẽ về quân sự trên Biển Đông bằng cách chia xẻ thông tin tình báo, hỗ trợ vũ khí trang bị, công nghệ cho nhau…tạo ra cho Việt Nam một sức mạnh lớn trên Biển Đông.
Việt Nam bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông cũng là bảo vệ lợi ích quốc gia của Nhật Bản bằng máu của mình và sức mạnh kinh tế, kỹ thuật, công nghệ của Nhật Bản. Đồng thời, sự kết hợp khí phách của 2 dân tộc Việt, Nhật mãi mãi là “lời nguyền” không bao giờ vượt qua cho kẻ hung hăng. Đó là sự hợp tác cần thiết và là nhu cầu tất yếu.
Tuy nhiên, không có một liên minh nào, hiệp ước nào, một quốc gia nào…có thể bảo vệ được độc lập, toàn vẹn chủ quyền của Việt Nam bằng chính bản lĩnh, trí tuệ và máu của người Việt Nam. Ông cha ta xưa, bằng sức mạnh dân tộc, đã từng một mình, đơn độc chống lại bọn phong kiến phương Bắc xâm lược đông mạnh, hết triều đại này đến triều đại khác để lại những chiến công hiển hách và các giá trị to lớn khác, thì ngày nay, sức mạnh dân tộc đó, kết với sức mạnh thời đại, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, thì Việt Nam không ngán ngại bất cứ kẻ thù nào.

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

XUNG ĐỘT QUÂN SỰ TRÊN BIỂN ĐÔNG: ĐỪNG DỌA!



Đừng dọa! Nếu như có xung đột quân sự trên Biển Đông thì kẻ bị thảm họa không lường trước được chắc chắn không phải là Việt Nam.
Vài chục chiếc máy bay, tàu chiến Trung Quốc diễu võ dương oai xung quanh giàn khoan hạ đặt phi pháp trong thềm lục địa và EEZ của Việt Nam có vẻ như để sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự đè bẹp sự phản kháng của Việt Nam, có vẻ như Biển Đông là “ao nhà” của Trung Quốc mà dựa vào Hạm đội Nam Hải đằng sau, họ có thể đưa giàn khoan HD 981 hay “hàng trăm giàn khoan vào Biển Đông” như tướng diều hâu La Viện hô hào, vào nơi nào họ muốn mà không phải trả giá.
Đừng đánh giá quá cao về con số như, 30 vạn quân, 60 vạn quân; trăm tàu tên lửa, khu trục, tàu ngầm vân vân. Những con số này không có ý nghĩa gì với Việt Nam, một dân tộc đã từng, đã quen “lấy ít địch nhiều” trên trận mạc.
Biển Đông không phải của riêng ai.
Senkaku với Nhật Bản không quan trọng bằng Biển Đông về lợi ích chiến lược. Nếu mất Biển Đông về tay Trung Quốc, Nhật Bản sẽ bị Trung Quốc ép mạnh ở Hoa Đông và đòn phong tỏa tuyến hàng hải trên Biển Đông của Trung Quốc sẽ khiến cho Nhật Bản rơi vào tình cảnh lựa chọn khắc nghiệt một mất một còn. Nhật Bản sẽ chọn Sekaku hay an toàn hàng hải trên Biển Đông?
Nhìn vào các tuyến hàng hải sống còn của các quốc gia liên quan từ Trung Đông, Ấn Độ Dương qua Biển Đông đến Đông Bắc Á-TBD, chúng ta đều nhận thấy, nếu như có xung đột quân sự xảy ra trên Biển Đông thì tuyến hàng hải thương mại, năng lượng sẽ bị gián đoạn, cắt đứt là điều không tránh khỏi. Hai cường quốc khu vực châu Á-TBD là Trung Quốc và Nhật Bản có hai nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến hàng hải này sẽ bị điêu đứng đầu tiên.
Ngay với Australia, tưởng như miễn nhiễm với sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng hơn 2/3 hàng hóa xuất khẩu và ½ nhập khẩu cũng đều phải qua tuyến hàng hải Biển Đông, trước việc Trung Quốc hung hăng hạ đặt giàn khoan trên vùng biển Việt Nam khiến nguy cơ xung đột quân sự xảy ra cũng đang vô cùng lo ngại và dư luận trong nước đang đòi phải chơi rắn với Trung Quốc… là đủ hiểu Biển Đông không phải của riêng ai.
Hãy tưởng tượng nếu một khi quốc gia nào đó khống chế được hoặc bị gián đoạn hay bị cắt đứt do xung đột quân sự thì cục diện kinh tế , chính trị khu vực Châu Á-TBD sẽ ra sao.
Vì thế, tự do, an toàn hàng hải trên Biển Đông luôn là vấn đề đặt ra cấp bách với mọi quốc gia liên can. Không những thế đây là vấn đề thuộc “lợi ích quốc gia” sống còn của các bên có tuyến hàng hải.
Xung đột quân sự trên Biển Đông nghĩa là…như thế nào?
Đoàn thuyền chiến của Trần Khánh Dư trong trận đầu đối đầu với hơn 500 thuyền chiến của Ô Mã Nhi đã bị đại bại nhưng trận tiếp theo, lợi dụng đoàn thuyền chiến Ô Mã Nhi đang hăm hở tiến về Thăng Long, Trần Khánh Dư tập hợp lực lượng nhấn chìm toàn bộ đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ. Đây là đòn cực hiểm, một thắng lợi mang tầm chiến lược khiến quân Nguyên Mông phải rút chạy và chiến thắng Bạch Đằng đã lưu danh vào lịch sử.
Trên Biển Đông, “đoàn thuyền lương” hay dòng hàng hóa khổng lồ của Trung Quốc, Nhật Bản của Australia…luôn rất tấp nập trên tuyến hàng hải “cắt mặt Việt Nam” mà ngay Trung Quốc cũng coi như “đường sinh mạng” của mình.
Ngày nay một cuộc đối đầu giữa 2 quốc gia với nhau không chỉ đơn thuần là dùng các đòn quân sự mà dùng đòn kinh tế còn đánh sập đối phương nhanh hơn, hiệu quả hơn đòn quân sự rất nhiều. Cấm vận, trừng phạt, phong tỏa…đã làm cho không ít quốc gia điêu đứng, tan rã mà ngay cường quốc quân sự như Nga hiện giờ cũng phải lo sợ.
Với một tuyến hành lang dài và xa căn cứ như vậy thì về nguyên tắc Trung Quốc phải phân tán lực lượng để bảo vệ, đó là chưa nói đến nghệ thuật phân tán lực lượng địch của Việt Nam buộc Trung Quốc phải phân tán.
Nếu xung đột quân sự trên Biển Đông xảy ra, với nhãn quan quân sự của mình, tôi cho rằng Việt Nam không dại gì dốc hết lực lượng để đối đầu một trận với PLAN mà nhằm vào các tử huyệt của địch trên tuyến hàng hải để kéo căng lực lượng địch, tạo điều kiện cho ta thực hiện các đòn đánh khác…
Chỉ ngay vụ giàn khoan HD 981, đối đầu với tàu Kiểm Ngư và CSB Việt Nam mà Trung Quốc cứ tăng dần lực lượng từ 80 nay lên đến 134 tàu chiến máy bay thì liệu Trung Quốc có mấy chục Hạm đội Nam Hải để phủ kín Biển Đông?
Với tư tưởng tác chiến đó, thì Cam Ranh hay đúng ra là lực lượng hải quân, không quân tinh nhuệ hiện đại của Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh sẽ như một thanh kiếm sắc lẹm cận kề trong gang tấc đang dí vào các tử huyệt của tuyến hàng hải quan trọng này.
Chúng ta không chủ quan, duy ý chí, để khẳng định thắng hay bại khi đối đầu với một lực lượng hải quân, không quân hùng hậu, hùng mạnh của đối phương, nhưng để cắt đứt hay làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ vận chuyển qua Biển Đông thì chắc chắn không khó với lực lượng hiện có tại Cam Ranh.
Nếu như tại eo biển Malacca, Malaysia chỉ cần vài quả thủy lôi và pháo binh tầm xa là phong tỏa được yết hầu này thì với Cam Ranh, khó hơn một chút nhưng, chỉ cần một lực lượng máy bay tiêm kich bom, máy bay diệt hạm…xuất phát từ những sân bay gần như là sát với tuyến hàng hải là chúng đủ sức thực hiện nhiệm vụ.
Trung Quốc gây xung đột quân sự trên Biển Đông nếu chỉ đơn thuần là đánh chiếm mấy hòn đảo thì đó mới chỉ là khó khăn ban đầu và Trung Quốc muốn chiến cuộc hạn chế trong phạm vi đó thôi thì đánh giá quá thấp ý chí, bản lĩnh của dân tộc Việt. Đừng hoang tưởng!
Tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa, chỉ cần có đủ cơm, muối và nước uống là Việt Nam đánh giặc đến khi nào thắng thì thôi, mà những thứ đó Việt Nam bây giờ không thiếu, không giống như thập kỷ 80. Còn Trung Quốc, tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa trên nền tảng một nội bộ bất ổn, lòng dân không thuận thì nước loạn chỉ là vấn đề thời gian.
Xung đột quân sự xảy ra trên Biển Đông là vậy đó.

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

ĐÃ ĐẾN LÚC VIỆT NAM PHẢI QUYẾT ĐỊNH!



Vụ giàn khoan HD 981 đã lột tả bản chất vốn có mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Việt Nam có cần phải tôn trọng mối quan hệ “ngàn đời” này không?

Tình hình khu vực và thế giới đã thay đổi.
Trên Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cùng với sự hộ tống của cả tàu chiến và máy bay quân sự bảo vệ là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông; bất chấp cả những thỏa thuận cấp cao giữa hai Đảng và Nhà nước Việt – Trung.
Không những Việt Nam, Philipines bị Trung Quốc gây hấn, đe dọa mà ngay cả Indonesia, Malaysia, Trung Quốc cũng nhe răng múa vuốt biến 2 quốc gia này thành đối thủ.
Nga-Trung Quốc tăng cường quan hệ trong tình thế Nga bị Mỹ và phương Tây trừng phạt sau sự kiện Ukraine và Trung Quốc bị liên minh Mỹ-Nhật Bản, Mỹ-Philipines bao vây. Rõ ràng sự bắt tay Trung Quốc và Nga với nhau diễn ra xuất phát từ mục đích chống cùng kẻ thù chung là Mỹ.
Căng thẳng Trung Quốc-Nhật Bản trên biển Hoa Đông đã thay đổi Nhật Bản và Mỹ không cách nào khác là khuyến khích Nhật Bản tái vũ trang, thực hiện quyền tự vệ tập thể mà theo đó, Nhật Bản sẽ sử dụng vũ lực trong 3 trường hợp sau: Khi an ninh của Nhật Bản bị đe dọa; khi một đồng minh thân thiết của Nhật Bản bị tấn công và khi một quốc gia bị tấn công đề nghị Nhật Bản điều binh trợ giúp.
Bắt đầu từ đây, Nhật Bản không những là một cường quốc kinh tế mà thực sự là một cường quốc quân sự hùng mạnh, có vị trí gần Việt Nam nhất trên khu vực Châu Á-TBD.
Có thể nói, thế trận và cục diện địa chính trị trên khu vực Châu Á-TBD đã thay đổi lớn và rất rõ ràng trong đó một điểm đang rất nóng nổi lên có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh lớn trên Biển Đông là Việt Nam một mình đang đối phó với sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc khi hạ đặt giàn khoan vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam cùng với 134 tàu chiến , hải cảnh, hải giám và máy bay bảo vệ cho hành vi phi pháp của họ.
Việt Nam phải làm gì khi bị Trung Quốc lấn tới?
Hòa bình và an ninh Việt Nam đang bị đe dọa bởi nước láng giềng Trung Quốc. Đồng bào ta thực sự lo lắng và kiên quyết phản đối, cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, chia sẻ và tỏ tình đoàn kết với Việt Nam.
Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt thật của mình là bành trướng, bá quyền nước lớn, hung hăng, ngang ngược, bất chấp đạo lý và pháp lý, quyết tâm cậy mạnh để chiếm trọn Biển Đông.
Với tình hình này, Việt Nam buộc đã sẵn sàng chuẩn bị cho biện pháp “không hòa bình”, nhưng trước hết là chuẩn bị cho “sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh”. Đó là phải tạo thế và lực cho mình.
Đành rằng Việt Nam phải học hỏi kinh nghiệm đấu tranh giữ vững độc lập chủ quyền, lối ngoại giao mềm dẻo, cương nhu… với gã hàng xóm Trung Quốc của ông cha, nào là đánh thắng nó nhưng vẫn cấp thuyền ngựa cho nó rút về nước, đánh thắng nó nhưng hàng năm vẫn phải cống nộp… vì thế giới ngày xưa một nước nhỏ ở cạnh một nước lớn có tâm địa bành trướng, luôn cậy đông, mạnh, đi cướp các quốc gia láng giềng nhỏ bé thì biết kêu ai, nhịn nó một tiếng, nhường nó một miếng cho yên cửa, yên nhà, miễn sao nó đừng đụng đến mình.
Nhưng, cả ngàn năm nay dã tâm cướp nước ta, thôn tính nước ta của nhà cầm quyền Trung Quốc thì chưa bao giờ thay đổi.
Nhưng, thế giới bây giờ đã khác xưa, đã toàn cầu hóa. Vì vậy, đường lối, đối sách với Trung Quốc của chúng ta cũng không thể vận dụng rập khuôn kiểu ngày xưa của ông cha.
Chính sách quốc phòng “ba không”, Việt Nam đã tỏ rõ thiện chí hòa bình, hữu nghị với Trung Quốc, nhưng Trung Quốc bất chấp Trung Quốc không muốn như vậy, họ muốn lớn hơn là Việt Nam phải thuần phục, lệ thuộc hoàn toàn cơ. Một con chuột dâng cho con mèo miếng phomat là chuột được yên? Không đâu, mèo muốn cả con chuột.
Việt Nam phải thay đổi để thoát ra khỏi cảnh ngang trái bức bách này và vụ giàn khoan HD 981 của Trung Quốc hạ đặt sâu trong thềm lục địa Việt Nam-một cuộc xâm lược kiểu mới rất thâm độc và nguy hiểm có lẽ là một cơ hội.
Năm 1979, Trung Quốc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn bộ biên giới, Đảng, quân đội Việt Nam đã xác định: Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, là đối tượng tác chiến trực tiếp. Ngày nay, tình thế chúng ta khác trước rất nhiều, thuận lợi hơn rất nhiều thì Việt Nam chọn bạn mà chơi, chọn “anh em” để giúp nhau khi hoạn nạn mà không ngại chuyện “tế nhị” như ông cha ta ngày xưa. Chẳng phải Việt Nam đã liên minh quân sự với Liên Xô và nhờ sự liên minh này mà Trung Quốc đã phải bại trận năm 1979 đó sao?(Ai không tin thì hãy xem lại hoạt động quân sự của Liên Xô khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979)
Với Nga, khi mối quan hệ Nga-Trung nồng ấm sẽ có sự tác động vào mối quan hệ Việt-Nga. Tuy nhiên, do bản chất mối quan hệ Nga-Trung giống như Liên Xô với Mỹ và Anh bắt tay nhau chống phát xít Đức, cho nên, chắc chắn mối quan hệ Việt Nam-Nga sẽ trở nên tin cậy hơn bởi Việt Nam sẽ là “quả đấm” của Nga ở Tây TBD.
Với Nhật Bản, đây là cường quốc kinh tế, quân sự có vị trí địa lý gần Việt Nam nhất, có cùng với Việt Nam một kẻ thù chung, có tuyến hàng hải sống còn trên Biển Đông và không có một mâu thuẫn nào với Việt Nam về quyền lợi kinh tế, quân sự, ngoại giao và chính trị. Chỉ cần biết rằng, Trung Quốc chưa bao giờ vượt qua được “lời nguyền Nhật Bản” và hết triều đại này đến triều đại khác từ cổ cho tới kim, Trung Quốc chưa bao giờ khuất phục được Việt Nam thì mới thấy sự thâm thù, cay cú của chủ nghĩa Đại Hán với 2 quốc gia Việt, Nhật.
Bởi vậy, liên minh với Nhật Bản chống kẻ thù chung (bây giờ nói thẳng toẹt ra là chống Trung Quốc) là thượng sách và điều may mắn, thuận lợi là vấn đề này lại phụ thuộc chủ yếu vào Việt Nam.
Với Philipines, tuy là một quốc gia có tiềm lực quân sự yếu nhưng vị trí chiến lược của Philipines và Việt Nam đã biến tuyến hàng hải từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương ngoài phải vượt qua eo biển Malacca lại buộc phải qua “eo biển” Cam Ranh-Subic.
Như vậy, liên minh với Nhật Bản tạo ra cho Việt Nam về lực, với Philipines tạo ra cho Việt Nam về thế.
Sự thách thức ngặt nghèo, nguy hiểm luôn là điều kiện cho những quyết định táo bạo có tính lịch sử. “Thay đổi cách đánh” trong Điện Biên Phủ là minh chứng và chắc chắn “Thay đổi cách đánh” trong tình hình hiện nay thì đã đến lúc Việt Nam phải quyết định.

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

NHỮNG “BIỆN PHÁP CẦN THIẾT” BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM LÀ GÌ?



Phải nhận thức đúng rằng, hành động vừa qua của Trung Quốc là đang thực hiện một cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới mà chỉ có Trung Quốc nghĩ ra.
Bất kỳ người dân Trung Quốc nào cũng tự hiểu: “Nếu đó là vùng biển của mình thì cớ gì Trung Quốc mang theo tới đó công cụ, phương tiện của kẻ đi cướp như tàu chiến, máy bay tiêm kích, các tàu cải hoán vũ trang với thái độ rất hung hăng, hiếu chiến như vậy? Chẳng lẽ chỉ có Trung Quốc là quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa giàn khoan ra biển khoan thăm dò dầu khí? Trong khi đó, Việt Nam đã có nhiều giàn khoan thăm dò, khai thác mà đâu cần triển khai các công cụ, phương tiện như đi cướp giống Trung Quốc?
Rõ ràng, đây là một cuộc chiến tranh, vì thế, tình hình đã trở nên rất nguy hiểm. Chúng ta không manh động, chủ quan mà phải bình tĩnh, sáng suốt, hành động thận trọng, khôn khéo, cương quyết để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh kiểu mới này.
Hơn 80 tàu cỡ lớn có tàu khu trục tên lửa và tàu tác chiến nhanh, chống lưng cùng với máy bay gầm rú…đã tỏ ra hung hăng phun vòi rồng, cậy to xác húc thẳng vào tàu Việt Nam…nhưng lực lượng tàu chấp pháp Việt Nam cụ thể là Kiểm Ngư và Cảnh sát biển đã không nao núng, sợ sệt. Họ rất bình tĩnh, tự tin với một ý chí kiên cường, tuân thủ nghiêm túc sự chỉ đạo chiến thuật, chiến lược, của chỉ huy nhằm mục tiêu chiến thắng toàn cục.
Buộc Trung Quốc phải lộ mặt.
Ngang ngược đưa giàn khoan vào hoạt động phi pháp tại thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc đã vấp phải hành động kiên quyết, tự tin của người chủ vùng biển là lực lượng chấp pháp Việt Nam khiến cho lực lượng phi pháp của Trung Quốc cậy có tàu tên lửa đằng sau, máy bay trên trời, không còn cách nào khác là phải giở thói côn đồ, hung hăng.
Theo UNCLOS thì Trung Quốc đã vi phạm là rõ ràng, không phải bàn cãi, nhưng cùng với hình ảnh tàu Trung Quốc phun vòi rồng, húc vào tàu chấp pháp Việt Nam được phát lên toàn thế giới thì bộ mặt hung hăng, ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế, cậy mạnh để bành trướng…đã lộ rõ nguyên hình. Không những thế dã tâm, tham vọng của Trung Quốc với Biển Đông cũng đã không còn được che đậy.
Kết quả đầu tiên, từ Biển Đông, những “đợt sóng” phản đối dữ dội của dư luận, cộng đồng quốc tế đang liên tiếp dồn dập giáng thẳng vào Trung Quốc đến mức chịu không nổi Tân Hoa xã đổ tội cho Việt Nam là “cố tình làm xấu hình ảnh Trung Quốc trước khu vực và thế giới”.
Đến đây, việc có kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không đặt ra suy nghĩ cho rất nhiều người. Có cần thiết không khi Trung Quốc hoàn toàn lộ mặt, bị các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản…phản đối quyết liệt? Có cần thiết không khi Trung Quốc là nước vốn quen bất chấp, và ngang ngược? Có cần thiết không khi người “thi hành án” không ai khác chính là dân tộc Việt Nam?...Có lẽ là không cần thiết lắm.
Có thể nói, đối đầu với 80 tàu chiến và tàu chấp pháp của Trung Quốc, lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam tuy nhỏ và ít đã bị chúng phun vòi rồng, đâm vào tàu gây thương tích nhưng với bản lĩnh và trí tuệ, họ đã thắng. Chiến thắng này mang tầm chiến lược.
Đáp trả tương xứng.
Lực lượng chấp pháp của Việt Nam trong mấy ngày qua trước sự hung hăng của tàu thuyền Trung Quốc xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam đã thể hiện một bản lĩnh tuyệt vời.
Do chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chỉ huy thực hiện mưu kế, đối sách trên biển, lực lượng chấp pháp Việt Nam đã kiềm chế hết mức trước việc bị tàu Trung Quốc cố tình đâm va, phun vòi rồng. Tàu chấp pháp Trung Quốc phần lớn là tàu quân sự cải hoán nên chúng có tốc độ nhanh và độ bền cao nên luôn chiếm ưu thế khi chủ động đâm va vào tàu Việt Nam. Giờ đây, sự kiềm chế của Việt Nam đã không cần thiết, đã đến lúc Việt Nam tung lực lượng để sẵn sàng đâm va với tàu Trung Quốc khi cần thiết. Tàu phóng lôi “mũi khoằm” của Nga cải hoán thành tàu CSB phải xuất phát. Đây là loại tàu có tốc độ nhanh và quay trở rất nhanh, có khung thép chắc, bền, sẽ là những mũi tên thép để đáp trả khi cần thiết.
Trung Quốc đã cậy tàu lớn, khỏe, tạo ra một tiền lệ phi hàng hải là chủ động đâm va thì họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi khi tàu nhỏ, rắn chắc, chủ động đâm va vào tàu lớn cơ động chậm. Chỉ cần một cú đâm va nhẹ, không cần mạnh và không nên mạnh để hạn chế xây xát cho ta, của một con tàu nhỏ vào vào 1/3 thân tàu tính từ đuôi của con tàu lớn thì chưa rõ ai là kẻ phải ôm phao cứu sinh.
Chiến thuật “cây cải bắp” mà Trung Quốc áp dụng thành công với Philipines tại bãi cạn Scarborough đã không có tác dụng với Việt Nam ngay từ đầu. Hôm nay tàu CSB 8001 đã khéo léo vượt qua vòng bảo vệ, áp sát giàn khoan kêu gọi Trung Quốc rút lui đã chứng tỏ hoạt động của HD 981 sẽ gặp khó khăn khi tiến hành một cuộc xâm lược mang đầy “bản sắc Trung Quốc” mà từ cổ chí kim thế giới chưa xuất hiện kiểu xâm lược này.
Hợp tác cùng Nhật Bản chống kẻ thù chung.
Đã đến nước này thì Việt Nam buộc phải đánh bài ngửa với Trung Quốc. Việt Nam không bao giờ chống Trung Quốc khi 2 bên tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Nguyên tắc quốc phòng “Ba không” đã chứng tỏ thiện chí của Việt Nam với Trung Quốc về vấn đề đó. Nhưng Trung Quốc đã giẫm lên thiện chí của Việt Nam, họ biến Việt Nam thành kẻ thù khi trắng trợn xâm lược chủ quyền Việt Nam. Không còn con đường nào khác, Việt Nam phải chống lại Trung Quốc bằng tất cả mọi sức mạnh trong đó có sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế gồm có Nhật Bản.
Quan hệ quốc phòng Việt Nam-Nhật Bản phải phát triển hết công suất vì mục tiên chung là an toàn hàng hải trên Biển Đông, vì sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.
Chưa đến mức phải phải xây dựng liên minh phòng thủ với Nhật Bản chống Trung Quốc xâm lược, nhưng điều đó không phải là điều không thể.
Thời điểm này Trung Quốc đã không còn dùng hành động đâm va tàu Việt Nam mà sử dụng chiến thuật khác là cậy đông vây chặt không cho tàu chấp pháp Việt Nam tiếp cận giàn khoan. Để tạo ra khoảng trống nhất định, Việt Nam cần phải có lực lượng mạnh tương đương với Trung Quốc tại hướng đó. Vì thế xúc tiến nhanh sự viện trợ các tàu tuần tiểu cho Cảnh sát biển với Nhật Bản khi Nhật Bản đã không còn bị hạn chế bởi nguyên tắc xuất khẩu vũ khí là thích hợp nhất trong tình hình hiện nay.
Giờ đây, sự phản đối của Trung Quốc cũng không có ý nghĩa gì với Việt Nam vì mối quan hệ này lòng tin đã tận đáy, Việt Nam không có lý do gì để bảo vệ, tôn trọng.
An toàn hàng hải-đường sinh mạng của Trung Quốc.
Còn nhớ, ngay tại thời điểm tháng 6/2013, Thủ tướng Việt Nam tại Shangri-La cảnh báo: “Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường”.
Và ngày 11/5/2014 tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Myanmar, Thủ tướng Việt Nam lại thông báo khẩn: “Hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông - mối quan tâm chung của ASEAN, của khu vực và thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng”.
Tư lệnh CSB Việt Nam cho biết, mặc dù trong khu vực đang căng thẳng bởi sự hung hăng của các tàu phi pháp Trung Quốc với lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam nhưng vẫn xuất hiện “dòng hàng hóa” đi qua là những tàu thương mại, tàu containe”.
Rõ ràng, kẻ gây ra chính là Trung Quốc khi ngang ngược xâm lược chủ quyền vùng biển của Việt Nam được UNCLOS công nhận và đương nhiên Việt Nam sẽ kiên quyết bằng mọi biện pháp để bảo vệ chủ quyền trước sự xâm lược này.
Chắc chắn sẽ là nguy hiểm, không an toàn khi căng thẳng ngày càng leo thang trên tuyến hàng hải đó nếu như không muốn nói là tuyến hàng hải bị ngừng hoạt động. Chừng nào giàn khoan phi pháp của Trung Quốc chưa rút khỏi vùng biển Việt Nam, chừng đó, Trung Quốc cũng sẽ không thoát khỏi hậu quả khủng khiếp khi dòng hàng hóa bị gián đoạn và áp lực mạnh mẽ của cộng đồng hàng hải quốc tế.
Có ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam và có ai đánh Trung Quốc nhiều lần như Việt Nam. Một đất nước có truyền thống chống giặc ngoại xâm như Việt Nam thì Trung Quốc không cần “nắn gân” hay thử lòng yêu nước của dân Việt. Trung Quốc cần phải nghiên cứu để hiểu rõ điều này: Pháp đã từng tấn công xâm lược Việt Nam, Mỹ cũng vậy và ngay bọn Khmer đỏ cũng đã từng tấn công biên giới Tây-Nam…nhưng mỗi khi Trung Quốc gây hấn là hào khí Đại Việt lại ngút trời. Bất cứ ai, bất cứ thành phần nào, cũng hừng hừng khí thế sẵn sàng “ăn thua đủ” với quân Trung Quốc xâm lược. Tại sao lại như vậy?????