Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Chống đổ bộ-nhiệm vụ cuối cùng của tuyến phòng thủ.


Việt Nam chắc chắn sẽ không ngồi nhìn khi các thế lực hung hăng đang củng cố, xây dựng đảo nhân tạo hòng tạo ra ưu thế tác chiến, diễu võ dương oai bằng các cuộc tập trận...
Cách đây 40 năm, khi giao nhiệm vụ đánh chiếm quần đảo Trường Sa cho quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh: “Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, nếu không hành động sớm sẽ bị nước khác đánh chiếm”.
Biết bao nhiêu xương máu của thế hệ cha anh đã nhuộm đỏ vùng biển Trường Sa để cho con cháu có được thành quả như hôm nay. Nhưng nguy cơ “bị nước khác đánh chiếm” là tiềm tàng, đang thách thức quân và dân huyện đảo Trường Sa từng giờ từng ngày. Vì vậy, không ngừng cảnh giác, chuẩn bị đầy đủ mọi phương án giáng trả có hiệu quả để buộc kẻ thù phải trả giá đắt nếu cậy thế đông, mạnh.
Tác chiến đổ bộ trong chiến tranh hiện đại.
Trong phương án tác chiến phòng thủ biển, sau khi gây khó khăn cho địch ở các tuyến phòng thủ từ xa thì chống lực lượng đổ bộ đánh chiếm đảo, điểm đầu cầu ở đất liền…là nhiệm vụ mà thành bại quyết định sự mất còn khả năng phòng thủ biển.
Nghệ thuật tác chiến đổ bộ hiện đại sử dụng 3 lực lượng: tàu đổ bộ lưỡng thê, tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn và máy bay trực thăng tiến hành đổ bộ thẳng đứng mà giới quân sự coi là phương thức tác chiến 3 chiều (lập thể) đã tạo nên một thế "chân kiềng" vững chắc.
Bộ 3 lực lượng này đã đáp ứng các tiêu chí rất cơ bản trong tác chiến đổ bộ, đó là: tập trung, mạnh và nhanh.
Tập trung, vì cả 3 lực lượng trên đều có thể cập bờ, đảo, để triển khai tác chiến cùng một lúc.
Mạnh là vì hỏa lực của 3 lực lượng này đủ mạnh để đè bẹp mục tiêu từ cấp chiến dịch trở xuống mà không cần sự hỗ trợ của các lực lượng khác.
Nhanh là vì khả năng cơ động của chúng rất cao. Nếu đối phương có một sức mạnh vừa phải, một sự cảnh giác tối thiểu thì sẽ không có cơ hội trở tay.
Có thể nói bằng sự xuất hiện tàu đổ bộ cỡ lớn (LPD) và tàu đệm khí cỡ lớn (LCAC)... đã làm cho lực lượng đổ bộ của các cường quốc biển trở thành một lực lượng có tính răn đe cao, uy hiếp mạnh, là "dao găm kề cổ, súng gí mang tai" vào nạn nhân không chỉ là những hòn đảo trơ trọi giữa đại dương mà ngay cả những quốc gia nhỏ bé.
Rõ ràng, chính sự thay đổi công nghệ đã thay đổi lớn chiến thuật đổ bộ đường biển truyền thống.
Chiến dịch đổ bộ đánh chiếm Cô Công (Campuchia) cuối năm 1979 của hơn 30 tàu chiến của Hải quân Việt Nam với Lữ đoàn lính thủy đánh bộ 101 Vùng 5 Hải quân, kết hợp với không quân ném bom, thì có thể thấy, đó là một cuộc đổ bộ lớn nhất của Hải quân Việt Nam từ trước đến nay nhưng hình thức tác chiến truyền thống. (Trinh sát, tìm bãi đổ bộ; dọn bãi đổ bộ bằng hỏa lực; dùng lực lượng nhỏ, nhanh, đánh chiếm đầu cầu; cuối cùng đại quân tràn vào bờ). Thời đó, năm 1979, cuộc đổ bộ này đã khiến không ít quốc gia ĐNA và kể cả Trung Quốc giật mình, lo lắng, về mức độ và khả năng hợp đồng tác chiến của Hải quân Việt Nam.
Trong cuộc đổ bộ này, không có “máy bay trực thăng đổ bộ thẳng đứng” nên gánh nặng tập trung lên tàu LCM-8 chở đại đội đánh chiếm đầu cầu. Do khu vực Cô Công-Campuchia rộng, nếu như có trực thăng đổ bộ vào một khu vực nào đó rồi vận động tấn công đánh chiếm đầu cầu thì giảm tải rất nhiều cho tàu LCM-8. Và lúc đó, nếu quân Pol Pôt mà có ý chí chiến đấu thì đại đội đánh chiếm đầu cầu sẽ gặp khó khăn…khi lính trinh sát và đại đội đánh chiếm đầu cầu thay vì triển khai nhanh bám bờ thì phải đánh chiếm đầu cầu trong tư thế phải vượt sông dưới làn đạn của địch để tiếp cận bãi đổ bộ.
Ngày nay, đương nhiên, chiến thuật đổ bộ luôn là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại nhưng theo mức độ, nhiệm vụ và do đó sẽ có những hình thức tác chiến khác nhau.
Chẳng hạn, đổ bộ xâm chiếm một quốc gia khác là hình thức tác chiến đổ bộ kết hợp hiện đại với truyền thống với sự tham gia của tất cả các lực lượng quân binh chủng với toàn bộ sức mạnh đột phá.
Đổ bộ đánh chiếm các khu vực ven biển, các khu vực bàn đạp đầu cầu, các căn cứ hải quân ven biển, các hải cảng lớn, các đảo đơn lẻ hoặc các cụm đảo, quần đảo và giữ chúng, thì hình thức tác chiến khác đi. Bởi do mục tiêu chỉ có ý nghĩa về chiến dịch, chiến thuật nên thông thường được tiến hành bởi lực lượng của hải quân và lính thủy đánh bộ mà tác chiến đổ bộ hiện đại như "siêu nhanh, siêu xa, ngoài đường chân trời" thì phương thức tác chiến trực tiếp đoạt bến đổ bộ trước đây đã nhường chỗ cho sử dụng phương thức tác chiến ba chiều (lập thể).
Đây là hình thức tác chiến mà rất nguy hiểm đối với các mục tiêu là quần đảo, đảo nhỏ đơn lẻ rất dễ bị thất thủ. Đặc biệt trong tranh chấp biển đảo mà với lực lượng LPD, LCAC, ngày càng hiện đại thì hình thức tác chiến này càng tỏ ra ưu việt, khả thi, thách thức lớn cho các quốc gia nhỏ bé ven biển muốn bảo vệ chủ quyền.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.
Cứ nhìn vào phương tiện, vũ khí trang bị, các cuộc diễn tập...đánh chiếm đảo trên Biển Đông của TQ thì hình thức tác chiến đổ bổ ngày nay khiến cho không ít các quốc gia "mất tinh thần" khi bị hù dọa, uy hiếp. Song, hình thức tác chiến đổ bộ hiện đại, kết hợp 3 lực lượng tàu đổ bộ lưỡng thê, tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn và máy bay trực thăng tiến hành đổ bộ thẳng đứng không phải là tuyệt chiêu, không phải có thế vững chắc như "kiềng 3 chân" mà chúng vẫn tồn tại những điểm yếu không thể khắc phục.
Chống địch đổ bộ đánh chiếm đảo, đầu cầu…thì tổng thể nhiều biện pháp với 2 nội dung gồm chống đổ bộ đường không, đường biển. Ở dây, chúng ta chỉ đề cập đến cách sử dụng 2 thứ vũ khí chiến thuật để tác chiến phi đối xứng của lực lượng hiện có được bố trí trên đảo.
Một là:
   .............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................. Và, trong thời đại vũ khí công nghệ cao thì to lớn, đông chưa hẳn là lợi thế.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Cục diện địa chính trị Tây-Thái Bình Dương sẽ biến chuyển lớn.


Cục diện địa chính trị là trạng thái quan hệ quốc tế của một nhóm quốc gia và nước lớn trụ cột chiến lược tạo ra trong một thời kỳ nhất định. Các cường quốc thực hiện chiến lược địa chính trị của mình trên khu vực nào đó bằng sức mạnh quân sự, kinh tế sẽ tạo ra một sự cọ xát lớn trong khu vực.
Mỹ, với chiến lược “xoay trục”, đã đưa 60% lực lượng Hải quân thường trực tại châu Á-TBD, củng cố, mở rộng các liên minh quân sự, chính trị và một Hiệp ước thương mại đối tác xuyên TBD (TPP) của 12 quốc gia trong đó có Việt Nam đang hình thành.
Những toan tính địa chính trị và mở rộng môi trường địa chính trị kiểu bành trướng lãnh hải của Trung Quốc đang diễn ra quyết liệt, hung hăng, đã tạo ra những mâu thuẫn lớn trong khu vực và Mỹ.
Thực sự, Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến địa chính trị với Trung Quốc ngay tại khu vực ĐNA và châu Á-TBD.
Trên Biển Đông, Việt Nam có một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ĐNA, là nơi giao thoa lợi ích quốc gia của nhiều cường quốc lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ… Trong bối cảnh tình thế đó, Việt Nam cũng không ngồi nhìn mà đã, đang mở rộng ảnh hưởng của mình để tạo ra một môi trường địa chính trị có lợi.
Đáng tiếc, sự “cọ xát” này diễn ra thay vì hình thức hợp tác hòa bình là sự hung hăng, ngạo mạn của cường quốc đề cao sức mạnh đang lên với những tuyên bố phi lý, áp đặt chính trị cường quyền khiến khu vực trở nên căng thẳng.
Hành động hạ đặt giàn khoan trong thềm lục đại Việt Nam; bồi lấp đảo chiếm được của Việt Nam xây dựng căn cứ quân sự đã khiến cho đối sách hòa bình với Trung Quốc của Việt Nam trên Biển Đông không thành công như: đường dây nóng thông qua kênh ngoại giao, quân đội, đảng mà 2 nước “xây dựng, hứa hẹn” trong thời gian qua đều không có tác dụng, khi tranh chấp căng thẳng xảy ra Trung Quốc từ chối hợp tác; hoạt động của ASEAN bị Trung Quốc khống chế, DOC, COC đều là thứ giấy lộn với Trung Quốc…buộc Việt Nam phải chuyển hướng chiến lược. Đó là tăng cường tiềm lực quốc phòng để sẵn sàng bắt kẻ xâm lược trả giá đắt, đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế đặc biệt là hợp tác song phương với Hoa Kỳ trên cơ sở những tương đồng về lợi ích trên Biển Đông.
Khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã có nụ cười thân thiện

Tính “đặc biệt”, “lịch sử” trong chuyến công du sang Hoa Kỳ của TBT Đảng CSVN đã được giới truyền thông đề cập quá nhiều nên không cần nhắc đến. Ở đây chúng ta cần quan tâm vì sao có chuyến công du sang Hoa Kỳ.
Trước hết, chuyến công du Hoa Kỳ của TBT là nhu cầu chiến lược của đôi bên.
Quan điểm cho rằng Hoa Kỳ “ve vãn” Việt Nam để biến Việt Nam thành tiền đồn ngăn chặn Trung Quốc bành trướng xuống Biển Đông…mới chỉ là cái hiện tượng, là luận điệu tuyên truyền của thế lực thù địch, của báo chí Trung Quốc.
Đúng là có sự trùng hợp về mục tiêu chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ trên Biển Đông là ngăn chặn Trung Quốc chiếm Biển Đông; đúng là Trung Quốc đang hung hăng bành trướng xuống Biển Đông bằng những hành động bất chấp luật pháp quốc tế... đã thách thức nguy hiểm đến an ninh, chủ quyền biển đảo Việt Nam…Nhưng coi đây là cơ sở cho Hoa Kỳ “ve vãn” và Việt Nam chấp nhận được “ve vãn” thì đó không phải là tầm nhìn của các nhà chiến lược Việt Nam và Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ thừa biết duy nhất trên Biển Đông chỉ có Trung Quốc là nhân tố đe dọa, thách thức đến chủ quyền, an ninh Việt Nam nhưng Việt Nam chẳng ngây thơ làm tiền đồn chống Trung Quốc nếu như Trung Quốc không bước sang “làn ranh đỏ” buộc Việt Nam phải “tuốt kiếm”. Điều đó có nghĩa là cùng hành động ngăn chặn, chống Trung Quốc bành trướng, nhưng nguyên nhân của Hoa Kỳ và Việt Nam hoàn toàn khác nhau. Nguyên nhân của Hoa Kỳ là vì Trung Quốc thách thức, đe dọa an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông và an ninh lợi ích quốc gia Hoa Kỳ khi Trung Quốc biến Biển Đông thành khu “đặc quyền quân sự” để “chia đôi TBD với Mỹ”…trong khi đó nguyên nhân của Việt Nam là vì Trung Quốc xâm hại đến chủ quyền biển đảo.
Như vậy, từ 2 nguyên nhân này có thể thấy rằng, bài toán địa chính trị giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ là không có lời giải, vô nghiệm, nghĩa là mâu thuẫn tích tụ cho đến khi nổ tung. Trong khi đó giữa Trung Quốc và Việt Nam lại có lời giải với nghiệm số là nếu như Trung Quốc tôn trọng toàn vẹn chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông, vì thật ra Biển Đông “đủ rộng cho Trung Quốc và Việt Nam”.
Tiếc thay Trung Quốc đã mắc phải những sai lầm chiến lược.
Một là chủ quan, đánh giá thấp Việt Nam. Sai lầm này là sai lầm chung cho nhưng kẻ xâm lược Việt Nam bao đời nay mắc phải.
Hai là đánh giá sai phản ứng của Việt Nam trước lợi ích quốc gia, dân tộc khi bị xâm hại. Hành động hung hăng, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc trên Biển Đông (chủ yếu nhằm và Việt Nam), Trung Quốc thừa biết sẽ đẩy các quốc gia trên khu vực về phía Mỹ nhưng không tin Việt Nam sẽ thay đổi cách tiếp cận hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ bởi Việt Nam Hoa Kỳ là 2 cựu thù, xung đột ý thức hệ…
Trung Quốc cho rằng và dọa rằng, nếu Việt Nam xích lại gần Mỹ thì sẽ bị Mỹ lật đổ chế độ bằng diễn biến hòa bình, chính quyền Việt Nam sợ Mỹ lật đổ hơn sợ mất chủ quyền, cho nên, Trung Quốc thực hiện chiến thuật gặm nhấm, gây áp lực để buộc Việt Nam nhượng bộ để có “hòa bình trong lệ thuộc”.
Ba là hành động bất chấp ngang ngược bồi lấp đảo, xây căn cứ quân sự trên Biển Đông đã không tính đến phản ứng quyết liệt của Hoa Kỳ khi thách thức an ninh quốc gia của họ. Có thể nói, Trung Quốc đã quá đà và hành động này đã làm tăng cao độ tương đồng lợi ích chiến lược của Việt-Mỹ, như “giọt nước cuối cùng” làm thay đổi trạng thái quan hệ Việt-Mỹ.
Vì vậy chuyến công du của TBT Đảng CSVN sang Hoa Kỳ được coi là đúng lúc khi 40 năm qua Việt Nam và Hoa Kỳ đã chuẩn bị “đủ lượng” sẵn sàng cho sự thay đổi “chất”; được coi là đúng thời điểm, khi Trung Quốc bất chấp tiến hành bồi lấp các đảo chìm chiếm được của Việt Nam xây dựng thành căn cứ quân sự.

Chuyến công du tạo nên sự đột phá chiến lược, sẽ có sự thay đổi lớn cục diện địa chính trị trong khu vực Tây TBD.

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015

Chuyến công du của TBT dưới góc nhìn của lính.



Kể từ năm 1975 đến nay trong khu vực và Việt Nam không thiếu các cuộc viếng thăm của các nguyên thủ quốc gia với nhau trên thế giới. Đó là chuyện quá đổi bình thường của công tác đối ngoại, quan hệ, hợp tác quốc tế…trong một thế giới toàn cầu hóa. Tuy nhiên, việc các nguyên thủ quốc gia Việt Nam và Mỹ thăm viếng lẫn nhau lại khiến cho dư luận quốc tế, giới quan sát chính trị có sự quan tâm, chú ý đặc biệt trong thời gian qua.
Vì sao như vậy thì chúng ta đã quá hiểu khi Việt Nam và Mỹ vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh lâu dài, tàn khốc nhất trong lịch sử của đôi bên.
Chiến tranh Việt-Mỹ kết thúc năm 1975 nhưng “hậu chiến” vẫn tiếp tục căng thẳng, ác liệt cho đến năm 1995 khi Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận Việt Nam sau 20 năm trời. Và cho đến hiện tại, tuy Mỹ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ nhưng mối quan hệ đó vẫn chưa được “bình thường” khi Mỹ vẫn còn cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam, Mỹ vẫn còn gây khó dễ…với Việt Nam.

Đến nay, 40 năm sau chiến tranh Việt Nam, trong một bối cảnh, nhận thức, hiểu biết về nhau như thế, nhưng quan hệ Việt-Mỹ có được như bây giờ là một thành tựu mà “không có 2 quốc gia nào trên thế giới có thể làm thay đổi mối quan hệ sâu sắc trong một thời gian ngắn như thế”. Có vẻ như Việt Nam và Hoa Kỳ đang phấn đầu bù lại thời gian đã mất, lấy lại những gì đã mất, đã bỏ lỡ những cơ hội thời gian qua.
Tại sao không phải là Thủ tướng hay Chủ tịch nước mà là Tổng bí thư một đảng Cộng sản cầm quyền tạo nên biểu tượng đặc biệt?
Thứ nhất, việc Hoa Kỳ mời chính thức TBT Đảng CSVN sang thăm, chứng tỏ Hoa Kỳ đã đánh giá đúng mục tiêu, vai trò, địa vị của Đảng CSVN trong toàn bộ mọi thành bại của công cuộc dựng nước và giữ nước Việt Nam thời hiện đại, do đó, Hoa Kỳ sẽ tiếp đón trọng thị như một nguyên thủ quốc gia Việt Nam là không có gì phải bàn cãi. Quốc gia này có thủ tướng nắm quyền, tổng thống là danh nghĩa, quốc gia kia thì ngược lại…nhưng Việt Nam, Tổng bí thư là nguyên thủ lãnh đạo cao nhất.
Thứ hai, việc mời TBT Đảng CSVN, đảng cầm quyền, sang thăm, chứng tỏ Mỹ không còn coi trọng ý thức hệ mà đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Điều này lại rất tương đồng với nhận thức của Việt Nam, bởi vì Đảng CS Việt Nam ngoài lợi ích quốc gia, dân tộc ra không có lợi ích nào khác.
Quả thật, nhận thức và quyết định này không phải là dễ dàng, đơn giản từ phía Hoa Kỳ, bởi lẽ về phía Việt Nam, ngay từ thời chưa lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương là bạn với Mỹ và trong Bản tuyên ngôn độc lập thì dòng đầu tiên cũng trích ra từ bản tuyên ngôn của nước Mỹ, trong khi đó, Mỹ đối xử với Việt Nam như thế nào và khi hiểu ra rằng, Việt Nam tiến hành chiến tranh chống Pháp cũng như chống Mỹ là không vì sự “ủy nhiệm” của ai mà là vì độc lập, tự do, thống nhất giang sơn…thì đã muộn.
Lịch sử đã chứng minh Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam không phải Đảng CS cầm quyền hay sao nhưng tại sao Trung Quốc tấn công Liên Xô, Trung Quốc tấn công Việt Nam…và Nga hiện giờ, ý thức hệ có khác Mỹ và phương Tây hay không?...
Thứ ba là, Hoa Kỳ nhận thức được rằng, chỉ có Đảng CS Việt Nam, duy nhất dưới sự lãnh đạo của họ, Việt Nam mới đủ khả năng đương đầu với thách thức hiện tại trên khu vực, cho nên, xây dựng đối tác với Việt Nam là quan hệ với một quốc gia ổn định chính trị, có tiềm lực, có vị trí địa chiến lược quan trọng…sẽ có lợi cho lợi ích Mỹ mà trước mắt là Chiến lược “xoay trục” sang châu Á-TBD và ít nhất Việt Nam đã và đang là đối thủ đáng gờm nhất đủ sức ngăn chặn Trung Quốc chiếm trọn Biển Đông.
Đây chính là nguyên nhân tạo ra hệ quả tất yếu của việc công nhận, ghi nhận, tôn trọng chính thể, chế độ Việt Nam của Hoa Kỳ, là yếu tố quyết định cho nền móng “lòng tin chiến lược” Việt Nam-Hoa Kỳ.
Cuối cùng là tạo một hiệu ứng trong khu vực ĐNA-ASEAN. Rõ ràng trong 10 nước ASEAN chỉ có Việt Nam là quốc gia cộng sản. Việc Mỹ mời Việt Nam gia nhập TPP cùng với Brunei, Singapo và chuyến đi thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam muốn chứng tỏ cho ASEAN thấy ngoài vị trí địa chiến lược quan trọng của Việt Nam, hợp tác với Mỹ là một nhu cầu của sự phát triển kinh tế, an ninh, hòa bình ổn định cho khu vực…đồng thời “đánh thức” các quốc gia trong khối xây dựng “lòng tin chiến lược” vì lợi ích tương đồng.
Sau chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Hoa Kỳ và Việt Nam có trở thành đối tác chiến lược hay không; Mỹ có bỏ toàn bộ cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam hay không; Việt Nam có gia nhập TPP hay không…đó chỉ là vấn đề thời gian, nhưng điều chắc chắn là sự tương đồng sẽ tăng cao và sự khác biệt sẽ giảm dần.
Việc Thủ tướng Việt Nam thăm Mỹ, Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam, rồi mới đây Chủ tịch nước Việt Nam thăm Mỹ, được xem như là những chương cuối trong lịch sử quan hệ Việt Nam Hoa Kỳ, nhưng việc Tổng bí thư Đảng CS Việt Nam nhận lời mời thăm Hoa Kỳ của Tổng thống Mỹ B.Obama được coi như là dấu chấm hết cho chương cuối cùng.

Trang lịch sử mới tiếp theo sẽ và đang bắt đầu…Việt Nam và Hoa Kỳ phải đổi mới lý luận, nhận thức để tránh sai lầm và bỏ lỡ cơ hội, tránh vết xe đổ của lịch sử vì lợi ích của 2 quốc gia.

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Mỹ chuẩn bị “lật bài” với Trung Quốc.


Trong bài “Hai đòn cực hiểm của Mỹ buộc Trung Quốc phải lùi trên Biển Đông” thì tôi chỉ nêu vấn đề Đài Loan và vấn đề bán vũ khí sát thương cho Việt Nam là 2 đòn hiểm như 2 lá bài mà Mỹ có thể lật ra bất cứ khi nào để chơi với Trung Quốc. Trong cuộc đối thoại chiến lược Trung-Mỹ vừa rồi, ngoài vấn đề Biển Đông, Mỹ còn tố cáo Trung Quốc hỗ trợ cho các cuộc tấn công mạng vào nước Mỹ. Mỹ không nói suông, không ngồi nhìn và đang “lật bài” chuẩn bị sử dụng 2 đòn hiểm này để trả đũa.
Đòn tập hậu mang tên Đài Loan
Nếu như bán vũ khí cho Đài Loan đã khiến Trung Quốc giãy lên như đĩa phải vôi thì vào ngày 25/6 Thượng viện Mỹ thông qua một đạo luật cho phép Mỹ tăng cường hợp tác quân sự với Đài Loan, theo đó  Đài Loan được khuyến khích tham gia vào tập trận chung với Mỹ, bao gồm huấn luyện trên không cũng như huấn luyện nâng cao cho bộ binh, tấn công bằng trực thăng và huấn luyện máy bay do thám, theo Reuters.
Đây là lần đầu tiên kể từ vụ “khủng hoảng eo biển Đài Loan” năm 1996, Mỹ không chỉ tuyên bố bán vũ khí mà còn tập trận trong vùng “cấm địa” của Trung Quốc. Hành động này của Mỹ đã khiến Bộ Quốc phòng Trung Quốc vô cùng tức giận và phản đối quyết liệt.
Bán vũ khí cho Đài Loan tự vệ, tập trận cùng với Đài Loan là hành động thách thức rắn nhất, trực tiếp vào chính sách “một Trung Hoa” của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Đây được coi như là đòn tập hậu cực kỳ nguy hiểm buộc Trung Quốc phải co lực lượng từ tuyến đầu (trên Biển Đông) để đối phó với một thực tế bất ổn khi Mỹ và Đài Loan nghênh ngang trước mũi, trong vùng “cấm địa” của mình. Mỹ muốn chứng tỏ cho Trung Quốc thấy rằng, nếu Trung Quốc thách thức an ninh về tự do hàng hải, hàng không, thách thức lợi ích Mỹ trên Biển Đông thì Mỹ sẵn sàng thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không những trên Biển Đông mà cả Đài Loan.
Ly khai là một từ ngữ tối kỵ trên đất nước Trung Hoa vĩ đại thì sự tồn tại của Đài Loan là một biểu tượng xấu mà bấy lâu nay luôn như là một khúc xương mắc ngay tại cửa họng của Trung Quốc. Vì thế hơn ai hết, thu hồi Đài Loan là một nhiệm vụ mang tính lịch sử của nhà cầm quyền Bắc Kinh.
Đã có các cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc với mục tiêu giả định là tấn công Đài Loan, tuy nhiên, đó mới chỉ là tập trận diễu võ giương oai mang tính đe dọa. Tuy thế, không ai hiểu khả năng sức mạnh của Trung Quốc bằng chính họ. Hậu quả không lường hết của cuộc tấn công thu hồi Đài Loan đã khiến cho giới cầm quyền Bắc Kinh do dự, mất ý chí, không dám mạo hiểm, chính là Mỹ đằng sau Đài Loan.
Xem ra, đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông và khu vực địa chính trị quan trọng là ĐNA bằng tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông và xây các đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam với một thái độ hung hăng, bất chấp chỉ làm cho các quốc gia ven Biển Đông lo ngại nhưng chưa đủ để buộc Mỹ phải “cụp đuôi” thì Mỹ đã chuẩn bị ra đòn hiểm mang tên Đài Loan để buộc Trung Quốc phải “co vòi”.
Đòn chỉ điểm tàu ngầm
Trong rất nhiều bài viết, tôi đã từng cho rằng Biển Đông với Trung Quốc không chỉ là vùng đặc quyền kinh tế mà khi chiếm được, Trung Quốc sẽ biến thành vùng “đặc quyền quân sự” và là tuyến xuất phát tấn công thuận lợi của tàu ngầm các loại.
Trung Quốc có một căn cứ tàu ngầm lớn, hiện đại ở Tam Á. Để tránh làm mồi ngon cho tên lửa hành trình, không quân đối phương tấn công, thì khi có xung đột quân sự, về nguyên tắc chiến thuật, tất cả các tàu ngầm phải rời cảng, phân tán đến vị trí trú ẩn hoặc vị trí đợi cơ, xuất phát tấn công.

Tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc có giấu được ai dưới lòng Biển Đông?
Biển Hoa Đông, Hoa Nam độ sâu nông lại gặp phải hệ thống săn ngầm hiện đại của liên quân Mỹ-Nhật Bản thì tàu ngầm Trung Quốc chẳng khác nào như cá nằm trên cạn. Do đó chỉ có Biển Đông là chỗ tốt nhất cho tàu ngầm trú ẩn, hay xuất phát tấn công. Nói là tốt nhất bởi độ sâu bảo đảm, phương tiện săn ngầm của các quốc gia ven Biển Đông như Philipines, Việt Nam, Malaysia…không có và có thì không hiện đại, nên tàu ngầm Trung Quốc vừa an toàn, vừa được bí mật.
Bởi vậy, chỉ điểm tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông, nắm chắc “đường đi lối về” của nó là điều nguy hiểm, đáng sợ nhất của Trung Quốc.
Việc Philipines đã cùng với máy bay săn ngầm P3-C Orion Nhật Bản tuần tra trên Bãi Cỏ Rong thuộc Biển Đông khiến Trung Quốc lo lắng, bất an.
Chưa biết khả năng săn ngầm của Việt Nam ra sao với vũ khí, phương tiện hiện có, liệu Việt Nam có tự tin trong cuộc đối đầu với hàng chục tàu ngầm các loại của Trung Quốc trên Biển Đông hay không, cũng đã khiến các nhà quân sự Trung Quốc đau đầu. Nhưng nếu như Mỹ sẵn sàng bán cho Việt Nam loại máy bay săn ngầm hiện đại có thể phát hiện rõ ràng, nhanh chóng các tàu ngầm trong lòng Biển Đông mà Việt Nam có nhu cầu và yêu cầu thì Biển Đông không phải là nơi trú ẩn an toàn, bí mật cho tàu ngầm Trung Quốc như các nhà quân sự phân tích.
Có thể nói “phá tan” nơi trú ẩn, bí mật, an toàn của tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông là đánh sập chiến lược quân sự của Trung Quốc vươn ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Máy bay săn ngầm Mỹ tuần tra trên Biển Đông cũng vì mục đích đó và nếu như các tàu ngầm này còn thách thức, đe dọa đến chủ quyền của Việt Nam, Philipines hay Malaysia…thì đương nhiên nó cũng sẽ trở thành đối tượng tác chiến được quan tâm theo dõi của các quốc gia này.
Với thế địa lý thuận lợi, được trang bị máy bay săn ngầm hiện đại thì các tàu ngầm Trung Quốc ở Biển Đông có nguy cơ như “cá trong chậu” và chiến lược bành trướng về phía Biển Đông của Trung Quốc sẽ gặp vô vàn khó khăn.

Hơn ai hết chỉ có Mỹ mới hiểu rõ vấn đề này (vì chỉ Mỹ mới biết khả năng phát hiện tàu ngầm Trung Quốc của máy bay P3-C Orion) và Mỹ có bán vũ khí sát thương cho Việt Nam hay không (Bỏ cấm vận toàn bộ) thì có thể sẽ xảy ra sau chuyến thăm Mỹ của TBT Đảng CSVN. Tất nhiên, mua hay không với Việt Nam lại là chuyện khác, nhưng dù sao Trung Quốc sẽ vô cùng bất an, không dám mạo hiểm, khi những quốc gia ven Biển Đông đều được trang bị máy bay săn ngầm hiện đại của Mỹ.

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Đã đến lúc Nga-Việt cần tập trận trên Biển Đông.


Sự hợp tác nào của Trung-Mỹ trên Biển Đông mà không có hiện diện của Nga-Việt, chắc chắn sẽ mang lại sự bất lợi cho Nga và Việt Nam.

Thực chất Mỹ tố cáo Trung Quốc, hành động thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông tạo ra sự căng thẳng với Trung Quốc nhằm 3 mục tiêu quan trọng.
Thứ nhất là triển khai, bố trí lực lượng tại Biển Đông nói riêng và khu vực Tây-TBD.
Thực hiện chiến lược “xoay trục” của Mỹ sang châu Á-TBD, Mỹ tuyên bố đưa 60% lực lượng Hải quân sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, để đưa 60% lực lượng sang một khu vực mới không phải là chuyện đơn giản, đặc biệt triển khai lực lượng vào Biển Đông-Tây-TBD là đòi hỏi nhiều điều kiện đáp ứng.
Trước hết là vị trí đứng chân (căn cứ): Mỹ đã chính thức trở lại căn cứ Subic
Tiếp theo là sự hỗ trợ của đồng minh, tập hợp lực lượng và tranh thủ sự đồng thuận của khu vực: Liên minh Mỹ-Nhật-Úc đã hình thành với sự hỗ trợ đắc lực của Philipines (cho Mỹ căn cứ và hỗ trợ hậu cần cho Nhật Bản tuần tra Biển Đông). Sự xuất hiện quân sự của Mỹ trên Biển Đông đã gần như “danh chính ngôn thuận”.
Đến đây chúng ta thấy mục tiêu thứ nhất, Mỹ đã đạt được trọn vẹn mà công lớn nhất giúp Mỹ chính là Trung Quốc. Sự hung hăng, tham vọng và hành động bành trướng của Trung Quốc không cần che đậy đã khiến các quốc gia trong khu vực lo lắng, bất an. Đó là mảnh đất tốt cho Mỹ phát triển.
Thứ hai là lôi kéo Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.
Rõ ràng là, Trung Quốc muốn bành trướng ở đâu, kiểu gì, mặc, nhưng đụng vào chủ quyền biển đảo của Việt Nam là bị chống lại một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Lịch sử đã dạy cho Việt Nam nhiều bài học và đến đây thì không ai hiểu Mỹ và Trung Quốc bằng Việt Nam.
Trên Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ càng căng thẳng, Việt Nam càng độc lập tự chủ, không theo ai chống ai. Việt Nam không theo Trung Quốc chống Mỹ vì tuyên bố của Mỹ, hành động của Mỹ phù hợp với lợi ích của Việt Nam (chứ tuyệt nhiên không phải Mỹ tuyên bố, điều lực lượng sang Biển Đông…là vì Việt Nam). Việt Nam cũng không theo Mỹ để chống Trung Quốc vì Việt Nam đủ tự tin, đủ sức đương đầu bảo vệ lợi ích của mình trên Biển Đông. Điều Việt Nam cần là cùng Trung Quốc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình và là bạn với Mỹ.
Thứ 3 là đẩy Nga ra khỏi Biển Đông.
Đẩy Nga ra khỏi Biển Đông không chỉ là mục tiêu của Mỹ mà ráo riết hơn, nhu cầu bức thiết hơn còn là của Trung Quốc.
Với Trung Quốc, mấu chốt của vấn đề là việc Nga cung cấp vũ khí phòng thủ biển cho Việt Nam càng hiện đại bao nhiêu thì làm cho âm mưu chiến Biển Đông của Trung Quốc gặp phải trở ngại bấy nhiêu. Tại sao Nga lại cung cấp vũ khí cho Việt Nam bảo vệ Biển Đông? Đương nhiên lợi ích Nga không thể ít và ít trọng lượng hơn mối quan hệ chiến lược Nga-Trung Quốc rồi.
Với Mỹ, Nga là kẻ thù thách thức vị trí bá chủ thế giới của Mỹ với một sức mạnh hiện hữu không giống như Trung Quốc. Do đó quân cảng Cam Ranh với sự xuất hiện của Nga khiến Mỹ bất an. Mỹ đã từng thử quan hệ Nga-Việt khi tuyên bố (không chính thức) yêu cầu Việt Nam không cho máy bay chiến lược Nga tiếp dầu ở Cam Ranh. Phải chăng một thông điệp yêu cầu về sự lựa chọn của Việt Nam về Hoa Kỳ và Nga?
Việt Nam, Nga thừa hiểu điều này và lặng lẽ quan sát chuyến đi của vị phó chủ tịch quân ủy Trung Quốc cùng 7 vị tướng Trung Quốc sang Mỹ vừa rồi. Họ ký thỏa thuận bí mật gì không ai biết, nhưng bất kỳ sự hợp tác của họ trên Biển Đông mà không có hiện diện của Nga-Việt, chắc chắn sẽ mang lại sự bất lợi, bất an cho Nga và Việt Nam.
Sách lược tốt nhất cho mối quan hệ Nga-Việt hiện nay là “tựa lưng nhau” để chống kẻ thù trước mặt của mình.
Nga đã từng tuyên bố tập trận với Trung Quốc trên Biển Đông, tập trận với Brunei trên Biển Đông…chuyện bình thường. Nhưng khi đã đến lúc Nga-Việt Nam tuyên bố tập trận trên Biển Đông thì rõ ràng là chuyện không bình thường, bởi vì sự quan tâm của Trung Quốc và Mỹ là rất lớn.

Tình thế cũng đã đến lúc có cuộc tập trận Việt-Nga trên Biển Đông với vị trí xuất phát tấn công là quân cảng Cam Ranh? 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Căn cứ Hải quân ở Trường Sa-không dọa được ai!


B-52 là một pháo đài bay thực sự khủng khiếp mà không dọa được Việt Nam thì cái gọi là “Căn cứ hải quân” mà Trung Quốc đang cố biến từ các đảo chiếm đóng trái phép của Việt Nam, chẳng là gì khiến Việt Nam mất bình tĩnh.
Mỹ tố cáo Trung Quốc bồi lấp những đảo đá, bãi cạn trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam biến chúng thành những căn cứ hải quân để tuyên bố ADIZ…tiến đến khống chế vùng trời, vùng biển Biển Đông, kiểm soát tuyến hàng hải quốc tế và eo biển Malacca.
Vậy, liệu Trung Quốc có biến các thứ đang xây dựng thành căn cứ quân sự tức là căn cứ hải quân (CCHQ) trên quần đảo Trường Sa hay không?
Về hình thức và nội dung thì có thể nhưng về giá trị sử dụng chiến lược lâu dài thì CCHQ ở đó là không thể.
Căn cứ Hải quân là nơi trú đậu, trú ẩn cho tàu thuyền của Hải quân. Là nơi bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các phương tiện tàu thuyền sẵn sàng tác chiến cho đến cấp chiến dịch. Do đó, yêu cầu là CCHQ phải có cầu tàu bến cảng, có kho chứa nhiên liệu, kho chứa vũ khí đạn dược, có xưởng sửa chữa kỹ thuật…
Về địa thế, CCHQ phải là nơi xuất phát tấn công thuận lợi nhất, đồng thời phải là nơi an toàn nhất cho tàu thuyền khi trú ẩn, neo đậu, tức là khả năng phòng thủ, sống sót cao trước đòn tần công của đối phương.
Như vậy, khả năng phòng thủ, khả năng sống sót trước đòn tấn công của đối phương quyết định sự tồn tại của CCHQ. Một CCHQ giống như để nhiều quả trứng trong một cái giỏ, về nguyên tắc, khi chiến tranh xảy ra, các lực lượng cơ động sẽ phân tán đến những vị trí đợi cơ hoặc vị trí xuất phát tấn công, nhưng lực lượng cố định như kho xăng dầu, đạn dược các cơ sở vật chất bảo đảm, các sân bay bến cảng là không thể. Khi căn cứ bị tiêu diệt, bị phá hủy thì các lực lượng cơ động như chim mất tổ, bị mất chỗ đứng chân nên cực kỳ nguy hiểm khi tham gia tác chiến dài ngày.
Tại quần đảo Trường Sa, với khả năng của mình, Trung Quốc có thể bồi lấp, mở rộng để xây sân bay, bến cảng, xây kho chứa nhiên liệu…nhưng để biến thành một CCHQ thì cho đến nay mới chỉ nghe “tuyên bố” từ các “hỏa lực mồm”.
Quả thật, để xây dựng CCHQ trên quần đảo Trường Sa, Trung Quốc rất muốn, nhưng 2 yếu tố kỹ thuật và chiến thuật đã không cho phép họ muốn là được.
Về kỹ thuật, đừng tưởng có sân bay là đưa J-10, 11 ra là cất cánh hạ cánh làm mưa làm gió trên vùng trời Trường Sa bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu. Khu vực quần đảo Trường Sa là biển dữ, thời tiết rất khắc nghiệt là kẻ thù nguy hiểm nhất cho các phương tiện trang bị điện tử tinh vi, hiện đại…Một năm có hàng chục cơn bão, mà khi có bão thì căn cứ phải bỏ không, vì ngay cả tàu chiến cũng phải đến khu neo tránh bão huống chi máy bay như những chiếc lá mỏng manh. Trung Quốc “ví von chúng như những chiếc tàu sân bay cố định 24 giờ/ngày, 365 ngày/năm”…là hoang tưởng.
Việc bồi lấp, mở rộng cũng có giới hạn, không thể muốn rộng bao nhiêu cũng được, cho nên, không gian kỹ thuật, phục vụ cho hoạt động máy bay cực kỳ hạn chế và không gian chiến thuật, phòng thủ cũng không có mà phải dựa vào tàu khu trục bảo vệ…dẫn đến nảy sinh ra nhiều tình huống bất lợi thế khác.
Về chiến thuật, trừ phi Trung Quốc tấn công phủ đầu đè bẹp tất các các lực lượng của đối phương khi chiến tranh bắt đầu, nếu không các căn cứ hay các đảo nhân tạo đó đều bị biến thành biển lửa khi chúng chỉ là những mục tiêu cố định trên biển rất dễ làm mồi ngon cho tên lửa hành trình và diệt hạm từ máy bay và tàu ngầm. Khả năng tự bảo vệ của CCHQ trên quần đảo Trường Sa là bằng “không”.
Đối đầu với Mỹ thì điều này sẽ không xảy ra trong đòn tấn công phủ đầu, do đó Mỹ chẳng coi CCHQ của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa là cái thứ gì hết. Xung đột quân sự với Mỹ, tuổi thọ của những CCHQ đó rất ít, chỉ tính bằng giờ. (Tàu ngầm tên lửa USS Michigan, lớp Ohio trong biên chế Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Hải quân Hoa Kỳ có khả năng phá hủy “căn cứ không quân” Trung Quốc trên đảo nhân tạo Chữ Thập chỉ trong vài phút. Một đợt tấn công với 10 tên lửa hành trình Tomahawk-D sẽ tạo ra “cơn mưa” 1660 quả bom bi trên đảo nhân tạo, phá hủy máy bay, radar, tháp điều khiển, kho chứa nhiên liệu, xe bảo dưỡng và kho đạn dược. USS Michigan mang tổng cộng 154 tên lửa Tomahawk. Vậy nhưng Mỹ lu loa lên để nhằm mục tiêu khác).
Do CCHQ ở khu vực quần đảo Trường Sa có tính chất đặc biệt, đó là căn cứ nhưng cũng chính là vị trí xuất phát tấn công trực tiếp cực kỳ lợi hại, khác với các căn cứ trên bờ, nó rất xa với đất liền, vì thế, các phương tiện, lực lượng phụ thuộc vào căn cứ hầu như tuyệt đối. Vì thế, nếu bị tên lửa Tomahawk hay vũ khí gì khác tấn công vào các kho chứa nhiên liệu, phá đường băng thì J-10 hay J-12 chỉ còn cách xin hạ cánh khẩn cấp ở sân bay Cam Ranh của Việt Nam, nơi có khoảng cách gần nhất, để khỏi tự rơi xuống biển.
Mặt khác những CCHQ đó, hay những đảo nhân tạo này là nằm xen kẽ trong rất nhiều đảo khác trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc không chiếm đóng được, vì thế, nếu có ý đồ gây xung đột với Việt Nam thì lực lượng đồn trú trên các đảo Trường Sa của Việt Nam cũng sẽ không ngồi nhìn. Chắc chắn, những CCHQ đó cũng chỉ sử dụng được một lần.
Khi Trung Quốc xây dựng bồi lấp ở đảo Gacma, các “hỏa lực mồm” của Trung Quốc không tiếc lời đe dọa, rằng đây là “một tàu sân bay không thể đánh chìm”; rằng, sẽ có hàng “trung đoàn J-10, J-11 ra Gacma trực chiến”, rằng, chỉ các Thành phố Hồ Chí Minh vài trăm km…Rất may cho Trung Quốc là những “hỏa lực mồm” này không được “điều binh khiển tướng”.
Xây dựng, bồi lấp các đảo chiếm được của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa là hành động phi pháp của Trung Quốc xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt. Kéo pháo binh, tên lửa, máy bay,… ra đó, đe dọa thành lập khu nhận dạng phòng không (ADIZ) là thái độ hung hăng, khiêu khích trên Biển Đông…chứ không dọa được ai. Nó-các CCHQ trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đang xây dựng trái phép, rất tiếc không phải là Cam Ranh hay Subic.
Vậy tại sao Mỹ lại phản ứng mạnh và Trung Quốc có quyết tâm biến nó thành những CCHQ hay không?
Đây là “cuộc chơi” của 2 cường quốc trên “sân nhà” Việt Nam và đương nhiên Việt Nam sẽ ủng hộ cho đội chơi đẹp, đúng luật và cảnh giác đối phó với những kẻ “đục nước béo cò”.

Đúng là không ai hiểu Trung Quốc bằng Mỹ và ngược lại, nhưng trừ…Việt Nam

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Hai đòn hiểm của Mỹ buộc Trung Quốc “lùi” trên Biển Đông.


Việc Trung Quốc đang biến những bãi cạn trên quần đảo Trường Sa thành những căn cứ quân sự để chiếm Biển Đông khiến Mỹ không thể ngồi yên.
Một loạt hành động, biện pháp của Mỹ nhằm ngăn chặn hành động của Trung Quốc mà chúng ta đã được chứng kiến. Đó là, dùng máy bay, tàu chiến tuần tra để thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc (như việc đưa máy bay B-52 vào vùng nhận dạng phòng không mà Trung Quốc thiết lập trên vùng biển Hoa Đông); bật đèn xanh cho Nhật Bản được xây dựng quân đội mang tính tấn công và sẵn sàng tác chiến tại Biển Đông khi lợi ích quốc gia của Mỹ, Nhật Bản bị xâm hại; nước Úc cũng chính thức can thiệp quân sự vào Biển Đông cùng với một liên minh tuần tra Biển Đông của Indonesa, Malaysia và Singapo đang sẵn sàng. Điểm nhấn đặc biệt chú ý là Liên minh quân sự mạnh, trụ cột của Mỹ tại châu Á-TBD là Mỹ-Nhật Bản- Úc đã chính thức sẵn sàng can thiệp quân sự trực tiếp vào Biển Đông.
Các biện pháp và hành động của Mỹ và liên minh đối đầu với Trung Quốc do tính chất không thể thỏa hiệp, nên tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng và rất dễ xảy ra xung đột. Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục bồi lấp các đảo đá, bãi cạn xây dựng các căn cứ quân sự thì sự có mặt lực lượng quân sự của Mỹ-Nhật Bản-Úc sẽ xuất hiện dày đặc hơn, áp lực sẽ giáng xuống Trung Quốc lớn hơn.
Tuy nhiên, khi Mỹ chưa ra hết những quân bài trong tay mình thì còn quá sớm để trả lời câu hỏi liệu xung đột quân sự có xảy ra hay không. Và đây có thể là 2 “biện pháp hòa bình” của Mỹ trên Biển Đông theo kiểu Mỹ của Bộ trưởng QP, ông A. Carter đưa ra tại Shangri-la mới đây.
Bán vũ khí, máy bay săn ngầm cho Việt Nam.
Phải khẳng định rõ là Việt Nam không muốn làm nghiêm trọng thêm tình hình vốn đã căng thẳng trên Biển Đông, muốn giải quyết tranh chấp chủ quyền bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tuân thủ UNCLOS và luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam phải xây dựng một lực lượng Hải quân mạnh, hiện đại để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh hải, biển đảo. Việc mua sắm máy bay, tàu ngầm, tên lửa đối hải…là chỉ tự vệ và chỉ hoạt động trong vùng trời, vùng biển Việt Nam, là nhu cầu tất yếu mà không nhằm gây thêm căng thẳng trên Biển Đông.
Việt Nam đã mua sắm vũ khí của Nga, của Tây Âu và giờ mua thêm vũ khí của Mỹ để đa dạng hóa vũ khí, lựa chọn những loại vũ khí tốt, phù hợp, phục vụ yêu cầu chiến thuật phòng thủ là chuyện bình thường. Vì thế, quốc gia nào phản ứng tiêu cực với năng lực, sức mạnh của Hải quân Việt Nam là vô lý, nếu như không có ý đồ xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Nếu Mỹ sẵn sàng bán máy bay săn ngầm hiện đại cho Việt Nam hoặc bất kỳ loại vũ khí nào khác mà Việt Nam cần thì Việt Nam cũng sẵn sàng mua.
Quan điểm của Mỹ, ngoài việc thu được tiền ra, Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam nhằm mục đích là Việt Nam sẽ ngăn chặn được mưu đồ, hành động bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông và đây cũng chính là quan điểm nhận thức của Trung Quốc.
Tuy nhiên, quan điểm của Việt Nam là quan điểm dựa trên chiến lược phòng thủ, tự vệ mà đối tượng tác chiến là những ai xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Chẳng hạn, chống ngầm trong phòng thủ biển của Việt Nam là một nhiệm vụ sống còn, quyết định sự thành bại của hệ thống phòng thủ xa bờ (chống tiếp cận). Do đó, không mua máy bay chống ngầm của Mỹ thì Việt Nam mua của các nước khác loại tốt nhất có thể, ngoài lực lượng hiện có của Nga ra…để đa dạng hóa vũ khí, để tăng cường sức mạnh chống ngầm là không phải bàn cãi. Đương nhiên, khi có thêm P-3C Orion thì tàu ngầm đối phương sẽ “suy nghĩ 2 lần” khi xâm nhập vào vùng biển Việt Nam vì với tính năng kỹ, chiến thuật của nó, ngay cả khi P-3C Orion bay tuần tra trên bờ biển Việt Nam vẫn tạo ra sức răn đe lớn cho kẻ thù trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam.
Mỹ biết Việt Nam cần gì và Mỹ biết Trung Quốc sợ điều gì, Mỹ muốn Việt Nam được trang bị mạnh lên để ngăn chặn Trung Quốc…là ý đồ của Mỹ, là quyền nhận thức của Mỹ. Nhưng với Việt Nam, ai ủng hộ chủ quyền biển đảo Việt Nam là đối tác, là bạn, ai hỗ trợ, bán cho Việt Nam những loại vũ khí tối tân để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc mà không có bất cứ điều kiện gì, nằm trong khả năng tài chính, thì Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận, mua, không băn khoăn với một tinh thần “Thà nuôi quân đội mình, còn không sẽ phải nuôi quân đội người khác”.
Bán vũ khí cho Đài Loan và…
Vào tháng 3/1979, thông qua “Luật quan hệ với Đài Loan”, Mỹ cam kết bảo vệ kinh tế, chế độ xã hội và an ninh cho Đài Loan. Trung Quốc đã “thử” cái cam kết này trong các lần “khủng hoảng eo biển Đài Loan” nhưng không thành công vì Mỹ tỏ ra hiếu chiến hơn hẳn. Đến nay, vấn đề Đài Loan vẫn là chủ đề nhạy cảm nhất, quan trọng nhất trong quan hệ Mỹ-Trung.
Mỗi khi Mỹ có ý đồ bán vũ khí cho Đài Loan là Trung Quốc nổi giận lôi đình, phản đối kịch liệt và không khó để nhận thức là khi đó Mỹ chơi “con bài Đài Loan” để buộc Trung Quốc phải thỏa hiệp một vấn đề gì đó. Chúng ta đã rõ khi năm 2010, Mỹ đe bán cho Đài Loan gói vũ khí 6,4 tỷ USD và gần đây nhất, ngày18/12/2014, Tổng thống Barack Obama đã đặt bút ký phê chuẩn “Dự luật chuyển giao tàu chiến hải quân”, mở đường cho việc bán 4 tàu khu trục nhỏ Mỹ không còn sử dụng cho Đài Loan khi trước đó, cả Thượng viện và Hạ viện Mỹ thông qua dự luật cho phép bán 4 tàu hộ vệ tên lửa lớp Oliver Hazard Perry cho Đài Loan đã khiên cho Trung Quốc rất tức giận.
Đúng thôi, vì Đài Loan là “lợi ích cốt lõi”, là lãnh thổ của Trung Quốc, bán vũ khí cho Đài Loan chẳng khác nào phủ nhận “một Trung Hoa”, “can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ Trung Quốc, làm tổn hại đến chủ quyền và lợi ích an ninh quốc gia”, khiến Trung Quốc không giãy lên như “đỉa phải vôi” mới là chuyện lạ.
Rõ ràng là việc bán vũ khí cho Đài Loan ra sao, như thế nào, thời điểm…là một đòn cực hiểm “2 trong 1” (chính trị và quân sự) của Mỹ giáng vào Trung Quốc.  
Xét trong mối quan hệ song phương Trung-Mỹ, thì xử lý, hóa giải miếng đòn này vô cùng khó khăn nếu như không nói là bế tắc. Do đó, về lý thuyết, Mỹ có thể tạo ra một cuộc nội chiến tại Trung Quốc (Đại lục và Đài Loan). Tuy nhiên, xét trên mối quan hệ đa phương, chiến lược toàn cầu, thì không phải không có cách để hóa giải, Trung Quốc có thể “bán đứng” ai đó hay thỏa hiệp điều gì đó nhằm bảo vệ lợi ích an ninh cốt lõi, then chốt, của mình như đã từng khi chưa đủ thế lực để đối đầu tay đôi với Mỹ.
Như vậy có thể nói, trên Biển Đông sẽ có rất nhiều “biện pháp hòa bình” trước khi phải dùng biện pháp chiến tranh. Biện pháp hòa bình mà Mỹ sẽ sử dụng như trên sẽ đồng thời tạo thế lực cho Mỹ trước thềm một cuộc xung đột quân sự. Do đó, hãy còn quá sớm để nói tới một cuộc xung đột Trung-Mỹ xảy ra trên Biển Đông khi Mỹ chưa tung ra hết những “biện pháp hòa bình”. Mới đây nhất, khi Biển Đông nóng lên sục sục thì bà Thái Anh Văn, thủ lĩnh Đảng Dân tiến của Đài Loan thăm Mỹ 12 ngày kể từ ngày 29/5, Hoàn Cầu thời báo đang lo sợ trước tuyên bố của 2 cố vấn thân cận của bà Thái Anh Văn là Trương Húc Thành và Kha Thừa Hanh: “Đảng Dân tiến sau khi cầm quyền sẽ từ bỏ chủ trương tuyên bố có chủ quyền tại Biển Đông”.
Quả thật, nếu vậy thì không có gì xấu và nguy hiểm hơn với Trung Quốc. Đài Loan vẫn là một vấn đề hóc hiểm nhất, là tử huyệt của Trung Quốc mà Mỹ quá hiểu.

Liệu trên Biển Đông, Trung Quốc có “lùi” không khi không muốn Việt Nam, mà đặc biệt là Đài Loan được Mỹ vũ trang hùng cứ một phương?