Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

LIỆU TRUNG QUỐC LẬP ADIZ TRÊN BIỂN ĐÔNG HAY KHÔNG?


Rõ ràng là không ai có thể nghi ngờ ý định tham vọng của Trung Quốc, nhưng không phải lúc nào muốn cũng được. Điều kiện khách quan, chủ quan có cho phép hay không mới là quyết định...
Tại sao Trung Quốc lập khu nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông trước Biển Đông?
Sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự xoay trục của Mỹ sang châu A-TBD đã tạo ra trên khu vực này một cuộc chiến địa chính trị khốc liệt, căng thẳng. Đồng thời tranh chấp vùng biển giàu tài nguyên, đường hàng hải quan trọng đã khiến cho các nước trong khu vực với Trung Quốc có nguy cơ xảy ra xung đột cao trước hành động đơn phương, đề cao sức mạnh của Trung Quốc…
Có thể nói khu vực châu Á-TBD đã như là một chiển trường của cuộc chiến tranh lạnh kiểu mới rất căng thẳng. Trung Quốc đang rất bức bối khi đang cố thoát ra khỏi sự bao vây của Mỹ và đồng minh trong chuỗi đảo thứ nhất.
Trong tình thế đó, Trung Quốc tuyên bố khu nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông. Đây là lần đầu tiên, Trung Quốc lập quy tắc chơi trong khu vực không tiếp giáp trực tiếp với lãnh thổ quốc gia của mình và được coi như một thách thức rất nghiêm trọng với Mỹ bởi lẽ 70 năm nay, chỉ có Mỹ, Nhật Bản nêu quy tắc ở đây.
Tất nhiên Trung Quốc đã tính rất kỹ khi chọn khu vực này.
Trước hết về vị trí địa lý, đây là khu vực gần trước cửa nhà nên Trung Quốc có điều kiện (lợi thế) để có thể dùng lực lượng không quân và các phương tiện khác trấn áp buộc đối phương thực thi những điều kiện do mình áp đặt, xuất phát từ đất liền mà không cần tàu sân bay hay máy bay tiếp dầu…khi thực thi nhiệm vụ, trong khi Nhật Bản cách xa Senkaku Điếu Ngư hơn Trung Quốc khoảng 200km. Nếu Nhật Bản không khuất phục, đụng độ có xảy ra thì Trung Quốc có đủ tự tin chiến thắng.
Thứ hai là, đối tượng mà Trung Quốc nhắm tới trực tiếp là Nhật Bản, một quốc gia có năng lực quân sự, kinh tế tương đương, đồng minh của Mỹ, một liều thuốc thử cực mạnh.
Nếu sau khi triển khai thành công (Nghĩa là Nhật Bản phải xin phép, cúi đầu khuất phục, còn Mỹ làm ngơ…), thì chiến lược chống tiếp cận của Trung Quốc không đánh mà thắng, lúc đó Trung Quốc tự nhiên có 2 thông điệp hoành tráng cho các nước ASEAN:
Thông điệp thứ nhất, Nhật Bản mạnh như thế, đồng minh quan trọng, lâu đời với Mỹ như thế mà Trung Quốc ra tay là cúi đầu, Mỹ cũng phải thúc thủ.
Và, thông điệp thứ hai, nếu quốc gia nào còn phản đối khu nhận diện phòng không của Trung Quốc, còn nghe theo Nhật, Mỹ thì… hãy coi lại thông điệp thứ nhất.
Phải công nhận rằng Trung Quốc tuyên bố khu nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông là đã chọn đúng tử huyệt để ra đòn phản công. Nói là tử huyệt bởi lẽ khi bị điểm sẽ gây ra sự rung động toàn cục, toàn chuỗi đảo được coi như là để bao vây Trung Quốc bị mất sự không chế vùng trời. Khi Trung Quốc làm chủ vùng trời thì có nghĩa là làm chủ tất cả, là quy luật của chiến tranh hiện đại.
Tuy nhiên, tìm ra hay nhìn thấy được tử huyệt là quan trọng nhưng năng lực tổ chức thực hiện để ra đòn dứt điểm mới quyết định vấn đề. Nếu ra đòn vào tử huyệt, là đòn hiểm mà không dứt điểm được có nghĩa là người ra đòn đã chơi với tử thần.
Trung Quốc tuyên bố lập khu nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông là đòn hiểm nhằm vào tử huyệt, nhưng tiếc thay chưa đủ lực để làm cho đối phương tê liệt.
Điều bất ngờ xảy ra là trong khi Nhật Bản tỏ ra hết sức kiềm chế thì Mỹ, có vẻ như ngoài cuộc mà Trung Quốc không nhắm tới, lại lao vào chơi rất rắn, không ngại va chạm mà thế giới theo dõi đã biết.
Hành động của Mỹ một mặt là cảnh cáo Trung Quốc, sẵn sàng tham gia trực tiếp để bảo vệ lợi ích quốc gia. Mặt khác, Mỹ muốn chứng tỏ cho đồng minh biết Mỹ có thừa khả năng nói “không” với Trung Quốc, đồng thời, ngăn ngừa Nhật Bản tái vũ trang quá đà, khó kiểm soát.
ADIZ trên Biển Đông, lúc nào và nơi đâu?
Trước tình thế này, nếu Trung Quốc lập khu nhận dạng phòng không trên Biển Đông chẳng hạn như trên không phận của cái gọi là thành phố Tam Sa…thì sao?
Trên khu vực đó thì không quân Trung Quốc chưa đủ khả năng để phòng thủ khẩn cấp khi cần thiết, họ còn đang chờ có tàu sân bay.
Khu vực nhận dạng phòng không này nếu lập ra sẽ đụng tới nhiều bên tranh chấp rất quyết liệt và hầu như nằm ngay trước cửa nhà của họ mà máy bay, các phương tiện phòng không khác đều đủ sức thực thi chủ quyền của mình. Chưa hết, khu vực này còn liên quan đến lợi ích quốc gia của nhiều cường quốc khác nữa như Nga, Ấn Độ...mà Trung Quốc phải suy nghĩ nhiều lần.
Nhật Bản đang chờ Trung Quốc tuyên bố thành lập khu vực nhận dạng phòng không trên Biển Đông để ra đòn. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết nước này “sẽ xử lý vấn đề ADIZ của Trung Quốc một cách bình tĩnh và kiên quyết, bằng cách phối hợp chặt chẽ với cộng đồng quốc tế”. Đó là gì nếu như không phải là thành lập khối các nước phản đối khu vực nhận dạng phòng không phi pháp của Trung Quốc?
Đây là điều mà Trung Quốc chẳng bao giờ muốn, bởi vì có nghĩa là Trung Quốc đã đẩy ASEAN vào vòng tay Nhật Bản trong khi thực chất cái gọi là Khu vực nhận dạng phòng không cũng chẳng có ý nghĩa gì với các nước này, nó cũng như các vùng cấm đánh bắt trên biển mà Trung Quốc đơn phương đặt ra thôi nhưng mà cái mất thì quá lớn.
Khi nước cờ trước bị lộ, bị phá thì nước cờ sau sẽ khó lòng tồn tại, và nếu cứ cố tình đi tiếp nước cờ sau thì vô nghĩa. Cho nên, tuyên bố khu nhận dạng phòng không trên biển Đông chỉ có thể là sản phẩm của những viên tương diều hâu nhưng “không tỉnh táo” mà thôi.
Với diễn biến ngày càng bất lợi, ngày càng núng thế, không lường trước khi tuyên bố khu nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông của Trung Quốc, chúng ta nhận thấy có 2 khả năng có thể xảy ra:
Trong tương lai gần, Trung Quốc chưa tuyên bố khu nhận dạng phòng không của họ trên Biển Đông, bởi lẽ cuộc chiến địa chính trị giữa Mỹ và Nhật Bản với Trung Quốc xảy ra trên khu vực ĐNA này cũng mang tính chiến lược sống còn của Trung Quốc và chiến lược xoay trục sang châu Á-TBD của Mỹ. Mất khu vực này Trung Quốc không có hy vọng gì khi đối đầu với Mỹ, Nhật Bản.
Tuy thế, khi Trung Quốc tuyên bố khu vực nhận dạng phòng không dù ở đâu thì cũng đều là nguy hiểm không trước mắt thì lâu dài cho khu vực. Khu vực đó trước mắt không thực thi được thì khi mạnh lên Trung Quốc sẽ thực thi. Có ai nghĩ rằng cái đường lưỡi bò mà chính quyền Tưởng vạch ra năm 1946 mà bây giời Trung Quốc cũng lấy đó để biến Biển đông thành ao nhà…
Vì thế, các quốc gia phải cảnh giác, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những đòi hỏi, áp đặt phi lí, phi pháp nếu xảy ra là không phải không nghĩ đến.

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Góc nhìn của lính:

THẤT BẠI ĐAU KHÔNG THỂ KÊU
TRONG TRẬN “ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”?

Trong chiến dịch Linebacker II (“Cứu bóng trước khung thành”) mà Mỹ tiến hành, do bóng không cứu được nên bị thủng lưới, Mỹ phải rời sân chịu thua.
Cứ lấy theo nghĩa của bóng đá thì Mỹ thua, cả thế giới đều rõ, nhưng còn có một kẻ thua đau hơn Mỹ nữa, đó là kẻ “bán độ”.

Trở ngược lại thời gian, chúng ta cần biết rõ hơn một chút về nguyên nhân chính trị để có cái Linebacker 2 này mà không cần quan tâm đến nguyên nhân quân sự.
Đó là, Mỹ muốn sau khi rút quân khỏi miền Nam Việt Nam thì ở đó tồn tại một thực tế giống như bắc và nam Triều Tiên. Do vậy sau khi rút, Mỹ cần hạn chế sức mạnh quân sự của Bắc Việt, đưa Bắc Việt vào “thời kỳ đồ đá” để tạo lợi thế cho Nam Việt, Mỹ đã thể hiện sức mạnh bằng chiến dịch Linebacker2.
Âm mưu này của Mỹ đã được thỏa thuận, trao đổi, mặc cả với Trung Quốc xong xuôi đâu vào đấy trong “Thông cáo chung Thượng Hải” mà Trung Quốc ký với Mỹ ngày 28/02/1972. Theo đó có 3 nội dung cần quan tâm, nói là quan tâm bởi vì 3 nội dung này Mỹ và Trung Quốc đều “thỏa thuận trên lưng nhân dân Việt Nam”:
Thứ nhất, Trung Quốc cam kết không can thiệp quân sự vào Đông Dương, đổi lại Hoa Kỳ cam kết cùng Trung Quốc chống bá quyền Liên Xô.
Thứ hai, Trung Quốc chấp nhận kiềm chế Việt Nam, đổi lại, Hoa Kỳ hạn chế, đi đến triệt tiêu các căn cứ quân sự, và quân đội Hoa Kỳ tại Đài Loan.
Thứ ba, Trung Quốc chấp nhận để Hoa Kỳ giữ nguyên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, không ủng hộ việc thành lập Chính phủ Liên hiệp miền Nam sau khi có Hiệp định về hòa bình ở Việt Nam, đổi lại, Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế thành viên cố định tại Hội đồng Bảo an liên hợp quốc, thay Đài Loan. (Thực chất duy trì tình trạng chia cắt 2 miền Nam-Bắc VN)
Đến đây, Bắc Việt chỉ còn Liên Xô thì chẳng còn gì để “băn khoăn” trong suy nghĩ của Mỹ, chiến thắng với Mỹ dễ như lấy đồ chơi trong túi. Mỹ “chỉ còn việc nhìn về Mátxcơva và nghiền nát Việt Nam”.
Rõ ràng Trung Quốc đã “bán đứng Việt Nam” để thu được một món lợi rất lớn mà bằng khả năng Trung Quốc không bao giờ có được. Ai mang ơn ai?
Nhưng Mỹ bị mắc 2 sai lầm nghiêm trọng dẫn đến bị “hố” trong “Thông cáo Thượng Hải”:
Một là, Mỹ không hiểu dân tộc Việt. Việt Nam từ cổ chí kim, đối với Trung Quốc, sách lược có thể mềm dẻo nhưng chưa bao giờ làm “chư hầu” cho Trung Quốc mà luôn luôn thực hiện một nguyên tắc bất di bất dịch “độc lập dân tộc”. Mỹ chẳng hiểu gì về lịch sử hơn 4000 năm giữ nước của Việt Nam, đánh nhau liên miên với ai chẳng lẽ vì điều khác sao?.
Hai là, Trung Quốc lúc đó chẳng ghê gớm gì như Mỹ tưởng. Trung Quốc có muốn cũng không thể giúp gì cho Việt Nam bắn rơi B52 và thậm chí nếu như Mỹ lúc đó đem B52 rải thảm ở Bắc Kinh thì đó mới là nơi biến thành “thời kỳ đồ đá” chứ không phải Hà Nội.
Rốt cuộc, đánh giá 3 nội dung trong Thông cáo Thượng Hải ta thấy, nội dung thứ nhất, Mỹ được lợi hơn Trung Quốc, vì không cam kết thì Mỹ vẫn chống Liên Xô ( và nay, đến giờ là Nga, Mỹ vẫn không tha), còn Trung Quốc thì việc chống Liên Xô hay Nga bây giờ là vấn đề tất yếu, Mỹ không cần khuyến khích, nhắc nhở.
Nội dung thứ hai thì cả hai đều có lợi, đã có kết quả như mong muốn. Trung Quốc chỉ cần cắt giảm viện trợhoặc gây khó khăn cho Việt Nam khi tiếp nhận hàng viện trợ từ Liên Xô thì coi như là kiềm chế sự tấn công của Bắc Việt. Điều này nằm trong tầm tay của 2 bên mà không phụ thuộc vào Việt Nam có muốn hay không.
Nội dung thứ ba thì Trung Quốc và Mỹ đều thất bại trong âm mưu duy trì tình trạng chia cắt 2 miền Nam-Bắc Việt Nam. Đương nhiên rồi, vì quyết định không phải do ý muốn chủ quan của Trung-Mỹ mà là do dân tộc Việt Nam quyết định.
Trong nội dung này, nếu như đặt “vấn đề Linebacker 2” ra một bên thì có vẽ như Trung Quốc được lợi lớn là “Hoa Kỳ ủng hộ Trung Quốc giữ ghế thành viên cố định tại Hội đồng Bảo an liên hợp quốc, thay Đài Loan”. Thực ra nội dung này, Mỹ, Trung không cần phải thỏa thuận vì cả hai có cùng một mục đích giống nhau. Vậy thì cái lợi thu được của Mỹ trong nội dung này nằm ở đâu? Nó nằm ở đây: Trung Quốc “im lặng” cho Mỹ muốn làm gì ở miền Bắc Việt Nam thì làm, miễn sao miền Bắc Việt Nam dưới trận đòn của Mỹ sẽ kiệt quệ không còn khả năng thống nhất 2 miền, dễ sai khiến, tạo lợi thế cân bằng cho miền Nam Việt Nam khi Mỹ rút.
Đây là câu kết trong nội dung thứ 3 mà Mỹ, Trung Quốc thỏa thuận ngầm, không đưa vào văn bản. Xem ra, tại thời điểm lúc ký thông cáo Thượng Hải, Mỹ cũng chả dại tý nào.
Và cái gì đến sẽ đến, chiến dịch Linbacker 2 đã được tiến hành với 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội. Bản lĩnh Việt Nam, trí tuệ Việt Nam đã tạo nên một danh từ “Điện Biên Phủ trên không”
Trận “Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ đã thua cuộc. Ngay cả khi thua, Mỹ cũng rất minh bạch rằng, nếu tiếp tục thì máy bay B-52 sẽ tuyệt chủng. Vậy thì Mỹ dại gì, Mỹ vốn thực dụng mà.
Trong khi đó có kẻ khác, trong trận “Điện Biên Phủ trên không” này cũng thua lây, thua đau hơn Mỹ, khi âm mưu, chiến lược ngàn đời của họ bị hoàn toàn phá sản, nhưng không thể kêu, cho nên, họ chỉ biết nén đau để hành động trả thù bỉ ổi, dã man, tàn bạo, sau này mà thế giới đã đang và sẽ chứng kiến.
Còn giờ đây trên Biển Đông???

VIỆT NAM KHÔNG DỰA VÀO AI HẾT.

Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hoá quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang. Việt Nam chủ trương không đe doạ hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước trong quan hệ quốc tế nhưng sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược.
Mấy ngày gần đây, sau chuyến thăm của Tổng thống Nga Putin, tờ Hoàn cầu thời báo đăng bài rêu rao cho rằng: “Việt Nam dựa vào Nga để đối phó Trung Quốc”. Thực ra, lâu nay giọng điệu chủ nghĩa dân tộc cực đoan, quá khích của Hoàn cầu thời báo thì chẳng ai lạ gì, chẳng ai tin, chẳng dọa được ai và chẳng ai quan tâm như trước. Tuy nhiên chưa hết, Tân hoa xã thì lại khác, tờ báo chính thống này do nhà nước quản lý, cho rằng việc tàu ngầm Việt Nam xuất hiện sẽ tạo ra “mối de dọa cho an ninh Trung Quốc”…Tất cả những biểu hiện đó, có vẻ như truyền thông Trung Quốc cố tình xuyên tạc, kích động, hướng dẫn dư luận Trung Quốc hiểu sai Việt Nam, gây thù hằn dân tộc.
Việt Nam không dựa vào ai hết.
Thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Điều này chứng tỏ Việt Nam chẳng dựa vào ai mà chỉ dựa vào chính mình.
Vần đề là, Việt Nam chú trọng phát triển quan hệ quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, cùng có lợi. Việt Nam coi trọng hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống đồng thời phát triển quan hệ quốc phòng với tất cả các nước có chung mục tiêu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Việc Việt Nam và Nga hợp tác chặt chẽ, quan hệ thân thiết là vì cả hai đều tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và cùng có lợi cho sự phát triển đất nước. Việt Nam mua vũ khí Nga, có những thứ cần thiết của Nga trong tay… là phải bằng tiền, Nga chẳng “cho không” vì lý do nào, thuận mua vừa bán.
Điều quan trọng là khi đã tin cậy lẫn nhau, không bao giờ phản bội nhau…thì bất cứ lĩnh vực nào cũng có thể chia xẻ được với nhau. Việt Nam và Nga là như thế và chẳng phải Trung Quốc và Nga đã có lúc như thế hay sao?
Khi lòng tin về nhau đã cao dày, không chỉ mua của Nga mà Việt Nam sẵn sàng mua cả công nghệ vũ khí của Mỹ. Liệu Hoàn cầu thời báo có cho rằng Việt Nam dựa vào Nhật Bản khi Nhật Bản bán cho Việt Nam dây chuyền công nghệ chế tạo vũ khí hay không khi điều đó xảy ra?
Như vậy Việt Nam quan hệ với bất cứ quốc gia nào để hiện đại hoá quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ (đương nhiên là không chống nước thứ 3 nào đó) nếu quốc gia đó tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam.
Trung Quốc có gì mà phải đối phó!
Thật là điên rồ khi Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé, đang phát triển vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh dài nhất thế giới lại chủ động đi chống một cường quốc đất rộng người đông có chung biên giới trên bộ, trên biển là Trung Quốc, một đất nước đang có GDP chỉ sau Mỹ, đang “trỗi dậy hòa bình”, hợp tác hữu nghị, thân thiện với các láng giềng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau để cùng phát triển hòa bình ổn định!!!
Từ xưa tới nay, Việt Nam luôn bị Trung Quốc từ phương Bắc, Pháp, Mỹ từ phương Tây tấn công xâm lược chứ có bao giờ Việt Nam làm điều ngược lại và cũng từ xưa tới nay Việt Nam buộc phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, đối phó căng thẳng với những âm mưu thâm độc nhằm xâm hại chủ quyền, sẵn sàng giáng trả để giữ vững độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ với một tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, chứ chưa bao giờ Trung Quốc nơm nớp lo sợ biên giới phía Nam bị xâm phạm như phía Bắc và phía Đông Trung Quốc.
“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, hãy thử soi xem thời gian gần đây nhất Trung Quốc làm gì nên nổi mà khiến Việt Nam phải đối phó?
Đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974.
Đánh chiếm vài bãi đá ngầm và đảo nổi tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988.
Từ năm 2010 trở lại đây tuyên bố Biển Đông là của Trung Quốc, là “ao nhà” của Trung Quốc, Trung Quốc chiếm toàn bộ Trường Sa của Việt Nam trên văn bản hành chính (chỉ có giá trị đối với họ) khi họ thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”…
Tiếp theo Trung Quốc tăng cường tiềm lực quân sự, đặc biệt là Hải quân. Tổ chức các cuộc tập trận lớn, phô trương thanh thế, với giả định đánh chiếm đảo trên Biển Đông.
Chủ nghĩa dân tộc cực đoan được “bật đèn xanh” hô hào tấn công Việt Nam để mở đường xuống phía Nam, đe dọa sử dụng vũ lực…
Với những diễn biến như vậy là rõ rồi, Nga, Nhật Bản hay Mỹ không làm vậy với Việt Nam. Nếu Trung Quốc là Việt Nam thì Trung Quốc sẽ làm gì?
Trước hết, mặc dù có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi đối với các vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam vẫn sẵn sàng đàm phán hoà bình để giải quyết các tranh chấp dựa trên các quy định của Công ước 1982 về luật biển của Liên hợp quốc.
Và cuối cùng là phải chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ cần thiết đủ để bảo vệ vững chắc các vùng biển đảo của mình đề phòng trường hợp đối phương sử dụng vũ lực để “thay đổi hiện trạng”.
Sự xuất hiện 6 tàu ngầm KILO thuộc Lữ đoàn tàu ngầm Việt Nam (so với hơn 70 chiếc tàu ngầm lớn nhỏ của Trung Quốc) mà Tân hoa xã cho là “tạo ra mối nguy hiểm cho an ninh Trung Quốc” là chuyện siêu hoang tưởng, chỉ phục vụ cho kích động dân chúng Trung Quốc.
Rõ ràng tàu ngầm Việt Nam và các loại vũ khí hiện đại khác mà Việt Nam mua sắm, chế tạo là để phòng thủ, bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình, không đe dọa tấn công xâm lược ai.
Vậy, phải chăng an ninh Trung Quốc được định nghĩa là “Đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”, cho nên, chống lại điều này (trong đó có nhiệm vụ của tàu ngầm Việt Nam) là thách thức đến an ninh Trung Quốc?
Nếu thế thì…cả thế giới này là của Trung Quốc, tiếc thay chưa phải.
Giá như không có ai đó đề cao sức mạnh đơn phương, không có những đòi hỏi phi lý, không có những hành động hung hăng, bất chấp...Giá như Biển Đông là một vùng biển ổn định, hòa bình, các tranh chấp đều được giải quyết bằng biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế, Biển Đông không có cái “đường lưỡi bò” của Trung Quốc vạch ra…thì Việt Nam chẳng phải tốn tiền mua tàu ngầm.
Lịch sử không có “giá như”, nhưng những điều “giá như” này đang tồn tại trong hiện tại và tương lai cho nên nó có thể thay đổi bởi nhận thức của con người.
Việt Nam rất mong muốn như vậy và cố gắng làm mọi điều có thể, bởi đây là hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên Biển Đông. Việt Nam chủ trương không đe doạ hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước trong quan hệ quốc tế nhưng sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược.

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

3 SAI LẦM CỦA TRUNG QUỐC KHI LẬP KHU NHẬN DIỆN PHÒNG KHÔNG TRÊN BIỂN HOA ĐÔNG



Dư luận Trung Quốc đặc biệt giới quá khích, chủ nghĩa dân tộc cực đoan được phen hỷ hả ra mặt sau khi BQP Trung Quốc tuyên bố khu vực nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông. Mũi tên đã được Trung Quốc bắn đi và đã có kết quả ban đầu khi các hãng hàng không lớn của Hàn, Úc… chấp nhận báo kế hoạch bay cho Trung Quốc và ngay cả Cục Hàng không dân dụng Nhật Bản và Đài Loan cũng khuyến cáo “các hãng hàng không hết sức cẩn thận” trong khu vực trên.
Khu nhận diện phòng không của một quốc gia thực chất là các điều kiện buộc tất cả các quốc gia khác phải thực thi trên không phận khu vực đó.
Khu nhận diện phòng không là hợp pháp khi không phận thuộc chủ quyền quốc gia được thế giới công nhận.
Do vậy, để tuyên bố khu vực này, quốc gia tuyên bố phải đủ mạnh để dùng bạo lực khi cần thiết trấn áp quốc gia nào không thực thi luật pháp hay điều kiện của quốc gia mình trên đó. Và cũng có nghĩa là đối tượng mà quốc gia tuyên bố hướng tới là những quốc gia nhỏ, yếu hơn mình nếu như đó là khu vực đang tranh chấp.
Khu vực nhận dạng phòng không này thường xuất hiện trong tranh chấp lãnh thổ, còn trong chiến tranh, khu vực này được hiểu như là khu vực cấm bay…
Trung Quốc tuyên bố khu vực nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông (ECSADIZ) chồng lấn lên chủ quyền của 2 quốc gia khác là Nhật Bản và Hàn Quốc, cho nên, thực chất đây là hành động tranh chấp chủ quyền mà đối tượng duy nhất chủ yếu là Nhật Bản.
Có thể nói trong thời điểm này, việc Trung Quốc tuyên bố ECSADIZ chính là bước leo thang cực kỳ nguy hiểm, điều đó có nghĩa là sẽ có ẩn chứa những tính toán sai lầm mà hoặc là phải xuống thang hoặc là không kiểm soát tình thế dẫn đến chiến tranh tương tàn của 2 nước và thậm chí khu vực và thế giới.
Thứ nhất là Trung Quốc đánh giá quá thấp Nhật Bản.
Loại trừ trường hợp mục đích lập ECSADIZ của Trung Quốc là muốn thế giới công nhận có sự tranh chấp chủ quyền tại Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản mà bấy lâu nay Trung Quốc muốn Nhật Bản công nhận nhưng Nhật Bản gạt phắt, ngoài ra thì chỉ có thể là đánh giá thấp, quá thấp Nhật Bản.
Trên Biển Đông, Trung Quốc đã từng đơn phương cậy mạnh tuyên bố vùng cấm đánh bắt nhằm khẳng định chủ quyền (phi lý, phi pháp) trong tranh chấp với đối tượng là các nước yếu, nhỏ. Tuy nhiên, nếu áp dụng chiến thuật này với Nhật Bản là sai lầm lớn.
Nhật Bản là một cường quốc kinh tế, quân sự tại châu Á không kém gì Trung Quốc. Vậy cơ sở nào để Trung Quốc buộc Nhật Bản phải thực thi những điều kiện mang tính áp đặt cường quyền trên khu vực mà Nhật Bản coi là chủ quyền của họ? Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh quân sự hay sức mạnh kinh tế?
Trung Quốc chẳng có thể dùng được gì cả. Đụng vào Nhật Bản, chưa tính đến yếu tố Mỹ thì ít nhất cả 2 cùng bị tương tàn và chưa biết chừng “lời nguyền Nhật Bản”, Trung Quốc một lần nữa lại không thể hóa giải nổi.
Dĩ nhiên, Trung Quốc thừa biết ông Shinzo Abe tuyên bố coi ECSADIZ “hoàn toàn vô giá trị đối với Nhật Bản”. Sự kiện máy bay chiến đấu của Nhật Bản truy đuổi máy bay Trung Quốc ngay sau khi Trung Quốc tuần tra khu vực vừa tuyên bố đã chứng tỏ điều đó.
Nhưng nếu như Nhật Bản có hành động chiến tranh bằng tuyên bố sẽ bắn hạ UAV của Trung Quốc thì Trung Quốc tuyên bố ECSADIZ.
Đây có thể coi là hành động rất rắn của Trung Quốc không những để đáp trả xứng đáng hành động của Nhật Bản mà còn thách thức ngạo mạn đến 70 ngàn quân Mỹ cùng phương tiện chiến tranh quanh đó.
Có thể nói, lao lên tấn công để gỡ hòa, Trung Quốc đã mắc sai lầm thứ hai:
Khiến Mỹ xóa bỏ vai trò trung lập.
Thực tế khu vực Châu Á-TBD, Mỹ đã cố tỏ ra trung lập (vì thực dụng) trong vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Nhật Bản, Philipin (đồng minh của Mỹ) và Trung Quốc cũng không ngừng, không quên yêu cầu Mỹ phải “tránh xa”. Đành rằng có sự ràng buộc khá lớn kinh tế của Trung Quốc và Mỹ, nhưng khi lợi ích quốc gia, toàn cầu của Mỹ bị Trung Quốc qua mặt như muốn “thay đổi hiện trạng khu vực Châu Á-TBD” chẳng hạn là điều không thể.
Sau tuyên bố ECSADIZ của Trung Quốc thì Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel ngay lập tức nhắc nhở Trung Quốc rằng quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku nằm trong khu vực được Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, có nghĩa là Washington sẽ bảo vệ đồng minh Tokyo nếu khu vực này bị tấn công.
Cứng rắn hơn, ông Hagel cho biết 70.000 quân đội Mỹ tại Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ không tôn trọng tuyên bố của Trung Quốc.
Liệu khi Mỹ và Nhật Bản bay vào ECSADIZ thì Trung Quốc có dám dùng biện pháp phòng thủ khẩn cấp hay bắn hạ như ông Doãn Trác phán hay không?
Hành động theo đó của Mỹ là máy bay B-52 vẫn chao lượn trong khu vực ECSADIZ bất chấp tuyên bố của Trung Quốc nhưng chưa thấy hành động của Trung Quốc là gì để chứng tỏ khả năng trấn áp, thực thi luật của mình trên đó.
Còn nhớ, cũng chính Trung Quốc trong vụ khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ 3, Mỹ ra tay buộc Trung Quốc phải xuống thang, vậy lần này, tương quan lực lượng vẫn không thay đổi, Mỹ và Nhật Bản sẽ làm gì, bằng kinh tế hay quân sự để buộc Trung Quốc phải xuống thang?
Vậy là rõ ràng, yếu tố Mỹ được khẳng định trong tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư, đó là cùng Nhật Bản giáng trả.
Điều này là rất quan trọng khiến cho Nhật Bản sẽ có những hành động, đối sách cụ thể “rắn” hơn với Trung Quốc trong nay mai về đối nội cũng như đối ngoại. Trung Quốc đã thay Nhật Bản nói lời muốn nói, đã buộc Mỹ lộ nguyên hình sách lược với Nhật Bản.
Cuối cùng làTrung Quốc lộ rõ bản chất bành trướng, bá quyền.
Tuyên bố ECSADIZ của Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối của nhiều quốc gia bởi trước hết là ECSADIZ của Trung Quốc là không hợp pháp, là sản phẩm của sự cậy mạnh, ngang ngược.
Đồng thời với hành động này, Trung Quốc tuyện bố tiếp theo là sẽ lập cái gọi là những khu nhận dạng phòng không (phi pháp) khác nữa khi chuẩn bị đủ diều kiện. Trong khi đó, Biển Đông chưa phải giới hạn cuối cùng cái lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, các quốc gia thuộc khu vực châu A-TBD không phải quốc gia nào cũng mạnh như Nhật Bản…thì liệu vùng trời, vùng biển sẽ bị Trung Quốc làm chủ hết không, có quốc gia nào dám đối đầu với Trung Quốc
Có thể nói, tình hình khu vực châu Á-TBD hiện nay có thể xảy ra 2 khả năng.
Thứ nhất, nếu khu vực nhận dạng phòng không của Trung Quốc trên biển Hoa Đông được thực thi nghiêm túc bởi sự yếu kém của Nhật Bản và sự bất lực hoặc thực dụng của người Mỹ thì chắc chắn tạo thuận lợi và dung dưỡng tính hung hăng cho Trung Quốc để tuyên bố khu vực thứ 2, thứ 3…khi Trung Quốc muốn. Do vậy thì việc Mỹ bị Trung Quốc truất quyền chỉ là thời gian ngắn.
Thứ hai, Nhật Bản sẽ là lá cờ đầu của khu vực chống sự bành trướng, bá quyền của Trung Quốc được các nước trong khu vực kỳ vọng và tin tưởng.
Nếu khả năng thứ hai thành hiện thực thì đây sẽ là một thất bại vô cùng lớn của Trung Quốc trong cuộc chiến địa chính trị với Nhật Bản và Mỹ. Điều đó có nghĩa là, tuyên bố ECSADIZ của Trung Quốc là một sai lầm lớn mang tầm chiến lược chứ không phải là sai lầm chiến thuật.
Từ 3 sai lầm này Nhật Bản đang chuẩn bị ra đòn thứ 2 sắp tới.....

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

SỰ NGUY HIỂM KHI ĐỂ NHẬT BẢN ĐỐI PHÓ MỘT MÌNH QUÁ LÂU VỚI TRUNG QUỐC


Trung Quốc- Nhật Bản là 2 cường quốc hùng mạnh nhất nhì khu vực chứ không phải 2 sắc tộc, bộ lạc nào để Mỹ hay tổ chức nào trên thế giới có thể dùng áp lực ngăn cản, kiểm soát khi cuộc chiến giữa họ xảy ra. Lúc đó, thì Mỹ chỉ có một lựa chọn duy nhất là trực tiếp vào cuộc chứ không còn cách nào khác.
Tại khu vực Châu Á-TBD, tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với một loạt quốc gia đã tạo ra những điểm nóng tiềm ẩn khả năng xung đột quân sự cao, khó kiểm soát.
Mỹ, một mặt tỏ ra trung lập để giữ mối quan hệ hợp tác kinh tế với Trung Quốc, mặt khác lại triển khai một loạt các hoạt động quân sự để bao vây, kiềm chế Trung Quốc.
Chính cách hành xử 2 mặt của Mỹ đã khiến Trung Quốc khai thác triệt để, họ cậy mạnh, hành động ngày càng quyết liệt, quyết đoán và hung hăng trong tranh chấp chủ quyền với các quốc gia khu vực Châu Á-TBD.
Trên biển Hoa Đông, tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quần đảo Sekaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư trên biển Hoa Đông căng thẳng đã leo thang đến nấc thang cuối cùng kề bên miệng hố chiến tranh.
Còn nhớ trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, lúc đầu Mỹ không tham gia vì muốn “ngư ông đắc lợi”. Nhưng khi bị cú như trời giáng Trân Châu cảng, lúc đó Mỹ mới buộc phải nhảy vào vòng chiến tranh. Vậy thì liệu cuộc chiến Trung-Nhật có xảy ra hay không? Và khi đó Mỹ có sự lựa chọn nào khác? Hậu họa khôn lường ở đây là gì?
Nước cờ tuyệt hay của Nhật Bản.
Nhật Bản tuyên bố nếu UAV của Trung Quốc xâm phạm không phận Senkaku là bị bắn hạ tức khắc. Trung Quốc tuyên bố, nếu bắn hạ UAV của Trung Quốc là hành động chiến tranh, Trung Quốc sẵn sàng đáp trả.
Như vậy có nghĩa là nếu như Nhật Bản bắn hạ UAV của Trung Quốc thì chiến tranh giữa 2 nước sẽ nổ ra.
Nên nhớ đây là tuyên bố của cấp chính phủ, cấp nhà nước của cả hai bên chứ không phải tuyên bố của những kẻ quá khích nào, cho nên, đây không phải là tuyên bố chơi theo kiểu “hỏa lực mồm”…mà lời tuyên bố được bảo đảm chắc chắn sẽ thực thi nghiêm túc bằng hành động.
Vấn đề là sau 2 tuyên bố này, UAV của Trung Quốc có bay vào nơi mà Nhật Bản gọi là không phận của họ hay không mà thôi.
Có thể nói Nhật Bản đã “chuyền bóng” vào chân Trung Quốc, buộc Trung Quốc xử lý, lựa chọn cực kỳ khó khăn một điều tối quan trọng một mất một còn tầm quốc gia.
Nếu Trung Quốc cho UAV bay vào đó có nghĩa là Trung Quốc chấp nhận một cuộc chiến với Nhật Bản mà Mỹ dứt khoát phải buộc vào cuộc. Mỹ có thể không can thiệp vào Senkaku nhưng rất tiếc cuộc chiến Trung-Nhật lại không chỉ dừng ở đó. Tiến hành một cuộc chiến tay đôi với Nhật Bản đã khó thắng, thế thì có cả Mỹ tham gia liệu Trung Quốc có thắng không, hay là “lời nguyền Nhật Bản” không thể phá giải?
Nhưng nếu không muốn chiến tranh với Nhật Bản lúc này thì có nghĩa là đừng cho UAV bay vào đó, không phận của Senkaku và điều này cũng có nghĩa là Nhật Bản đã bảo vệ được chủ quyền của mình.
Chắc chắn hiện giờ, Trung Quốc chưa muốn chiến tranh với Nhật Bản có Mỹ tham gia trực tiếp, do đó, Trung Quốc sẽ không dám cho UAV bay đến Senkaku để thử xem Nhật Bản có dám bắn hạ hay không.
Để tăng độ rắn cho tuyên bố bắn hạ UAV, Nhật Bản tiến hành một động thái rất hung hăng, dùng máy bay, khu trục hạm, xông thẳng vào cuộc diễn tập “Cơ động-5” của Trung Quốc khiến Trung Quốc tức lộn ruột và buộc phải thay đổi kế hoạch diễn tập.
Đây chẳng phải là nước cờ tuyệt hay đó sao. Nhật Bản vừa dùng áp lực để buộc Trung Quốc phải bỏ ngay trò dùng UAV phục vụ mục đích tranh chấp chủ quyền, vừa gửi đến Mỹ một thông điệp ngắn “Anh hoặc là đi cùng thuyền với tôi hoặc tôi tự do đi một mình”.
Lựa chọn khó khăn của Mỹ.
Trước tình hình đó, Mỹ đã tỏ ra hốt hoảng lo lắng đến “lợi ích quốc gia” sẽ bị thiệt hại. Rõ ràng là Mỹ đã nhận thức được là không thể áp đặt lối chơi thực dụng của mình. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ Mike Howe cho rằng, Mỹ không nên để một mình Nhật Bản đối phó với Trung Quốc bởi nếu điều này diễn ra sẽ hậu họa khôn lường.
Mỹ sợ rằng nếu để Nhật Bản một mình thì bị Trung Quốc “ăn tươi nuốt sống ư? Không phải, Mỹ hiểu Trung Quốc có gì, Trung Quốc chưa đủ bản lĩnh và khả năng làm điều đó. Vấn đề là Mỹ đã nhận thấy thời gian “một mình” với Trung Quốc của Nhật Bản không dài nhưng đủ để Nhật Bản “trưởng thành”. Trong khi Mỹ lại không muốn Nhật Bản quá mạnh, sức mạnh vượt ra khỏi tầm quản lý của Mỹ, lúc đó, chưa nói việc Nhật Bản sẽ tranh ngôi vị với Mỹ mà Nhật Bản sẽ tự mình làm mọi thứ cần thiết để chơi rắn với Trung Quốc, làm đảo lộn các mối quan hệ trong khu vực gây thiệt hại lớn cho lợi ích của Mỹ.
Một thực tế là Trung Quốc càng hung hăng bao nhiêu thì Nhật Bản càng trỗi dậy, càng cố “phá tan xiềng xích” để trở thành cường quốc quân sự, chính trị bấy nhiêu. Điều lo ngại cho Trung Quốc và kể cả Mỹ là để trở thành một cường quốc như thế, Nhật Bản chỉ vướng bởi cơ chế (xiềng xích) nhưng không thành vấn đề về mặt kỹ thuật.
Trung Quốc, Mỹ và thời thế xô đẩy…Nhật Bản sẽ đi theo con đường riêng của mình, sẽ là quốc gia tiên phong chống sự bành trướng của Trung Quốc theo cách của mình mà không cần Mỹ.
Để Nhật Bản một mình đối phó với Trung Quốc quá lâu thì Mỹ phải hối hận.
Đó là sự nguy hiểm cho Mỹ khi Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật Bản sẽ không có lý do gì mà tồn tại, bị người Nhật vứt vào sọt rác làm ảnh hưởng đến sự tồn tại quân sự của Mỹ ở Châu Á-TBD mà cả an ninh nước Mỹ. Chưa hết, điều gì sẽ xảy ra nếu như Nhật Bản và Nga bắt tay nhau chẳng hạn…Lúc đó, Mỹ sẽ mất quyền độc tôn ở khu vực Châu Á-TBD và phải chăng cái gọi là hậu họa khôn lường như ngài Chủ tịch Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ Mike Howe cảnh báo là vậy.
Chắc chắn trong tương lai gần Mỹ sẽ không đánh đổi mối quan hệ với Nhật Bản để có mối quan hệ bền chặt hơn với Trung Quốc. Mỹ không thế vừa muốn ăn con vịt quay vừa muốn ăn trứng nó đẻ ra hàng ngày.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

CAM RANH VÀ SUBIC – SỰ KHÁC BIỆT 2 THƯƠNG HIỆU.


Cam Ranh và Subic hiện tại không còn là căn cứ quân sự của nước ngoài nào nhưng trước sự trỗi dậy của Trung Quốc kéo theo tình hình tranh chấp căng thẳng trên Biển Đông, một lần nữa, Cam Ram Ranh, Subic lại được sự quan tâm lớn của giới quân sự, ngoại giao và của các bên liên quan.
Subic-thương hiệu Philippin.
Tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippin xảy ra quyết liệt khi bãi cạn Scarborough bị Trung Quốc dùng tàu cá có hộ tống của tàu Hải giám chiếm đoạt và bãi Cỏ May (một trong 9 đảo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Philippin đang làm chủ) đang bị Trung Quốc lăm le chiếm nốt khi tuyên bố chủ quyền ngang ngược.
Thực tế thì đã có vài lần Philippin đàm phán “song phương” với Trung Quốc nhưng ở vào thời điểm thế lực của Hải quân quá yếu trong khi tham vọng của Trung Quốc quá lớn, không thể kiềm chế, thì đàm phán trong vị thế đó làm sao thành công cho Philipines.
Rốt cuộc, khi Philippin đã thấm hiểu được “ý chí” của Trung Quốc thì cái giá phải trả là mất bãi cạn Scarborough. Và, cho đến giờ, phải chăng giữa Trung Quốc và Philippin thì “không còn gì để nói với nhau”, “các biện pháp ngoại giao đã cạn” trong tranh chấp chủ quyền trên biển?
Philippin kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vì vi phạm UNCLOS với cái gọi là “đường lưỡi bò”; Philipines tăng cường sức mạnh với tốc độ nhanh cho lực lượng Hải quân, không quân; Philippin làm mới nóng liên minh quân sự với Mỹ; Philippin là nước ở châu Á-TBD duy nhất công khai bày tỏ ủng hộ Nhật Bản tái vũ trang…là sự đáp trả rất quyết liệt, nhưng với Trung Quốc, nếu chỉ vậy thôi thì đây là chuyện nhỏ. Philippin sử dụng căn cứ Subic như thế nào mới là chuyện lớn, đáng quan tâm, lo ngại của Trung Quốc.
Rõ ràng là cả Trung Quốc và Philippin đều biết chính xác là Mỹ không đem quân sang để đánh nhau với Trung Quốc bởi mấy đảo đá, bãi cạn của Philippin tranh chấp vì đó không phải là lợi ích quốc gia của Mỹ. Philippin cũng đã có bài học của Gruzia quá tin vào NATO, Mỹ sẽ đối đầu quân sự với Nga nên có hành động “xỉa răng cho cọp”. Nói chung, ít có một quốc gia nào đi bảo vệ một quốc gia nhỏ bé mà sẵn sàng đụng đầu với một đối thủ ngang ngửa, đặc biệt quốc gia thực dụng như Mỹ thì không có.
Hiện diện quân sự của Mỹ ở Subic không phải cùng trực tiếp với Philippin tranh chấp chủ quyền mà để không chế Biển Đông và eo biển Malacca khi cần, ngăn cản Trung Quốc đang ham muốn và ráo riết thực hiện.
Khi Mỹ hiện diện tại Subic thì cái gọi là “vòng dây xiết quanh cổ Trung Quốc” càng chặt lại là điều Trung Quốc, một siêu cường, không thể chấp nhận.
Trong điều kiện đang tồn tại liên minh quân sự Mỹ-Philippin thì sự hiện diện của Mỹ tại Subic là “danh chính” và chỉ cần Philippin “mời” là “ngôn thuận”.
Có thể nói, đụng độ tranh chấp với Philippin, đã gây ra một mâu thuẫn trong chiến lược Biển Đông của Trung Quốc rất khó giải quyết. Đó là, Trung Quốc phải lựa chọn giữa việc đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông hay lôi thôi với mấy cái đảo đá chìm để “dọn chỗ VIP trên Biển Đông” cho Mỹ…
Và, đó cũng chính là sự khai thác, sử dụng triệt để Subic kiểu Philippin hay Subic-thương hiệu Philippin.
Cam Ranh-thương hiệu Việt Nam.
Philippin và Việt Nam cũng có tranh chấp căng thẳng về chủ quyền biển đảo với Trung Quốc. Cam Ranh của Việt Nam còn có lợi thế hơn Subic nhiều lần…Nhưng Việt Nam và Philippin có cách khai thác sử dụng 2 cảng nổi tiếng đó khác nhau để tạo ra thương hiệu khác nhau.
Thứ nhất là:
Philippin có liên minh quân sự với Mỹ nên không sợ Trung Quốc tấn công. Việt Nam không liên minh quân sự với ai cả nên phải tăng cường cảnh giác, tự lực tự cường, “thắt lưng buộc bụng” để nâng cao năng lực phòng thủ bảo vệ Tổ quốc sẵn sàng giáng trả quân xâm lược, bắt chúng phải trả giá đắt.
Với tinh thần đó, Việt Nam đã, đang chỉ có đủ khả năng, tìm mọi khả năng, tăng cường mọi khả năng, sử dụng, khai thác một cách hợp lý, sáng tạo vị trí Cam Ranh, Trường Sa nhằm một mục đích là bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông được quốc tế công nhận mà không nhằm làm hại hay để đối phó với một quốc gia nào.
Đó cũng là điều giải thích rõ ràng quan điểm nhất quán của Việt Nam là không liên minh quân sự với quốc gia nào để chống nước thứ 3 (lẽ dĩ nhiên điều đó đồng nghĩa với việc sẽ không có chuyện cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự).
Cho nên, Cam Ranh chỉ là căn cứ quân sự liên hợp gồm không quân, hải quân hiện đại của Việt Nam, chỉ phục vụ mục đích quân sự duy nhất cho Việt Nam. Đồng thời, Cam Ranh cũng là nơi cung cấp dịch vụ (hàng hải, hậu cần, kỹ thuật) cho tàu thuyền quân sự hay dân sự của bất cứ quốc gia nào.
Thứ hai là:
Một số người hô hào là hãy cho Mỹ đặt căn cứ quân sự tại Cam Ranh để đối phó với Trung Quốc…
Giả sử như vậy thì khi Trung Quốc tấn công Trường Sa, xâm lấn chủ quyền thì Mỹ trực tiếp đánh Trung Quốc vì Việt Nam? Hoang tưởng.
Với Cam Ranh, giới quân sự thì đánh giá Cam Ranh có một vị trí vô cùng quan trọng và lợi hại trong khu vực. Rằng, ai có Cam Ranh thì khống chế được Biển Đông, ai có Trường Sa cũng khống chế được Biển Đông và cuối cùng thì ai khống chế được Biển Đông là làm chủ toàn khu vực…
Điều lý thú là Việt Nam có cả Cam Ranh và Trường Sa nhưng lại không có ý tưởng khống chế Biển Đông để làm chủ khu vực ngay cả khi nếu có đủ khả năng để phục vụ cho ý tưởng đó. Nhưng đó lại là ý tưởng của Mỹ nếu như Mỹ có Cam Ranh của Việt Nam.
Tại sao Việt Nam có đủ khả năng khai thác sử dụng Cam Ranh để bảo vệ chủ quyền của mình mà phải giao cho người khác sử dụng vì lợi ích quốc gia của họ không trùng hợp với lợi ích quốc gia Việt Nam?
Đó là điều vô lý, dại dột, không thể xảy ra.
Và cuối cùng:
Tính cách dân tộc, nền văn hóa dân tộc và đặc biệt là từ năng lực, ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền…của 2 quốc gia khác nhau.
Kết luận vấn đề là làm sao xây dựng được thương hiệu mạnh? Muốn vậy phải liên kết, hợp tác với ai...thì phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ. Chắc chắn các sếp đã có bài rồi.
ngocthong19.5@gmail.com

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

VÁN CỜ BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM



Đương nhiên là vậy, đã qua rồi thời Việt Nam là một quân cờ trên Biển Đông, trên ĐNA. Với vị trí chiến lược quan trọng, với khả năng tự vệ, đương đầu với mọi thách thức an ninh có được, đã đến lúc Việt Nam tự quyết định chiến lược an ninh của mình.
Nói đến Biển Đông thì ai cũng đều có chung một đánh giá từ xưa đến nay là Biển Đông có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong khu vực châu Á-TBD. Chính vậy mà làm chủ hoàn toàn Biển Đông hoặc bảo vệ an toàn hàng hải trên Biển Đông không phải chỉ là mong muốn của một quốc gia mà có rất nhiều quốc gia đưa vào trong chiến lược khu vực, toàn cầu của họ.
Đó thực sự là tâm điểm của một cuộc chiến địa chính trị khu vực châu A-TBD mà nguy cơ xung đột, chiến tranh và cơ hội hợp tác, hòa bình phát triển là không đoán định.
Với hơn 3000 km đường bờ biển giáp Biển Đông và hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó có quần đảo Trường Sa nằm gần như chính giữa Biển Đông, Việt Nam, do đó, có một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trên Biển Đông nói riêng và khu vực ĐNA nói chung.
Không khó để giải thích tại sao trước đây, Việt Nam cứ liên miên hết thế lực lớn này đến thế lực lớn khác luôn dòm ngó, xâm lược hoặc coi như một quân cờ trên bàn cờ chiến lược Biển Đông, khu vực ĐNA.
Tại sao ư? Tại vì nghèo, yếu, lại ở vào vị trí đắc địa là nguyên nhân chính gây ra thảm họa cho dân tộc Việt Nam trước đây.
Ngày nay, Việt Nam đã khác, với khả năng tự vệ, đương đầu với mọi thách thức an ninh có được, đã đến lúc Việt Nam tự quyết định vị thế của mình, tham gia vào cuộc cờ khu vực với vị thế khác – người chơi chứ không phải là quân cờ.
1- Nước cờ của Việt Nam từ góc nhìn Trung Quốc
Hoạt động ngoại giao thời bình như hoạt động quân sự thời chiến, nghĩa là đều có tính quyết đinh sống còn với vận mệnh quốc gia.
Trong thời chiến, hoạt động ngoại giao phụ thuộc vào kết quả quân sự. Hiệp định Gioneve năm 1954 được ký kết phải sau khi “Tin đây anh (Phạm Văn Đồng) Điện Biên Phủ hoàn thành”. Hiệp định Pari ký cũng phải sau trận “Điện Biên Phủ trên không”
Trong thời bình, kết quả đối ngoại phụ thuộc lớn vào vị thế đất nước, đặc biệt là tiềm lực quốc phòng. Không có khả năng, tiềm lực quân sự để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bắt kẻ xâm lược phải trả giá đắt nếu liều lĩnh xâm phạm, nghĩa là không đủ sức răn đe thì hoạt động ngoại giao chỉ “chót lưỡi đầu môi”.
Hiện tại ở khu vực châu Á-TBD đã có nhiều liên minh quân sự như Mỹ-Nhật Bản, Mỹ-Hàn Quốc, Mỹ-Philipines và nhiều tam giác chiến lược như Mỹ-Nhật Bản-Hàn Quốc, Mỹ-Nhật Bản-Ấn Độ, Mỹ-Nhật Bản-Úc…có vẻ như là để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy những mối quan hệ đó có thể làm cho Trung Quốc lo ngại, nhưng không đủ để làm họ hốt hoảng.
Trong chiến lược đẩy lùi Mỹ, Nhật Bản ra khỏi chuỗi đảo thứ nhất và đầy tham vọng biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình, đương nhiên, Trung Quốc sẽ vấp phải sự chống trả quyết liệt của bên liên quan.
Trên khu vực ĐNA cũng xuất hiện nhiều mối quan hệ cấp đối tác chiến lược như Việt Nam-Indonesia, Việt Nam-Nhật Bản…đặc biệt có đối tác chiến lược sâu, toàn diện như Việt Nam-Nga chẳng hạn, thì đâu là mối quan hệ khiến Trung Quốc lo sợ nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến chiến lược biến Biển Đông thành “ao nhà” của họ?
Phải chăng khi Mỹ và Việt Nam trở thành đối tác chiến lược, Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam, mối quan hệ tăng lên từ chiều sâu đến chiều rộng thì khiến Trung Quốc lo sợ?
Không phải. Mỹ có lợi ích quốc gia toàn cầu, dù có đối đầu với Trung Quốc, muốn bao vây, kiềm chế Trung Quốc…nhưng vẫn hợp tác với Trung Quốc. Vì thế khi cần, Mỹ vẫn sẵn sàng lấy mối quan hệ với Việt Nam ra mặc cả với bất kỳ quốc gia nào, kể cả Trung Quốc để tính toán thiệt hơn, nhiều ít.
Vậy, liên minh phòng thủ giữa Việt Nam với Philipines và ASEAN?
Nếu xảy ra thì đây cũng là điều đáng lo sợ cho Trung Quốc, bởi lẽ các quốc gia ĐNA trong khối ASEAN này có một địa quân sự rất quan trọng trên Biển Đông và eo biển Malacca. Khi họ liên thủ với nhau thì Biển Đông sẽ trở thành như một cái “hồ nước” mà một chứ mười hạm đội Nam Hải cũng chẳng làm gì được khi vùng vẫy trong đó bị “đồng loạt trên bờ ném đá”.
Rất may là tình huống này không có thể xảy ra. Cuộc chiến địa chính trị giữa Trung Quốc, Mỹ đã khiến cho ASEAN buộc phải lựa chọn, nghiêng ngả theo lợi ích quốc gia mà họ theo đuổi và Trung Quốc cũng không mấy khó khăn đang làm mọi cách để không xảy ra.
Vậy mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga chăng?
Cũng không phải. Thực tế mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga là mối quan hệ được coi trọng ưu tiên hàng đầu hiện nay. Đây là mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, đặc biệt tin cậy lẫn nhau và không một xung đột lợi ích nào dù là nhỏ.
Nga đã không ngừng tăng cường năng lực quốc phòng cho Việt Nam để đủ sức đương đầu với thế lực bành trướng, tạo ra sức răn đe mạnh (đương nhiên là mua bán, nhưng nếu không có độ tin cậy thì không phải có tiền là mua được thứ mình muốn và ngược lại), qua đó Nga kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, đồng thời củng cố một điểm đứng chân ổn định vững chắc, tin cậy tại châu Á-TBD cho tương lai gần, vừa bảo vệ lợi ích kinh tế của Nga trên Biển Đông.
Tuy nhiên giữa Nga và Trung Quốc cũng là đối tác chiến lược của nhau có tính chất vừa hợp tác vừa kiềm chế cho nên Nga không thể vì Việt Nam tất cả để hy sinh lợi ích quốc gia khi hợp tác với Trung Quốc.
Vậy rốt cuộc, với khả năng quốc phòng và sức mạnh trên Biển Đông hiện tại, Việt Nam tăng cường mối quan hệ với quốc gia nào thì sẽ khiến Trung Quốc lo sợ và không muốn?
Nếu như thế thì nước cờ đó hay mối quan hệ này phải có tác động mạnh đến cấu trúc địa chính trị khu vực và ít nhất có một mục tiêu chung là ngăn chặn Trung Quốc biến Biển Đông thành “ao nhà”. Đặc biệt, mối quan hệ đó phải có độ tin cậy, tức là không có xung đột về lợi ích. Mối quan hệ đó sẽ…
Đó chính là nước cờ hay sách lược đối ngoại có tính logic mà Việt Nam đã, đang và sẽ dùng để tăng cường thế, lực cho đất nước đủ sức bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình trước những thách thức nguy hiểm có thể xảy ra.
2- Việt Nam-Nhật Bản, không để lịch sử lặp lại.
Trong tình thế hiện tại về chủ quyền, rõ ràng là Trung Quốc đang xâm hại đến chủ quyền Việt Nam.
Trung Quốc đã thành lập và xây dựng cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; Trung Quốc ngang ngược, cậy mạnh, gọi thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam, ra lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng EEZ của Việt Nam.
Hạm đội Nam Hải của hải quân Trung Quốc luôn phô trương thanh thế, ráo riết diễn tập đánh chiếm đảo này đảo khác trên Biển Đông…(còn những tuyên bố ngạo mạn, láo xược, của giới học giả quá khích, tướng tá diều hâu, hiếu chiến về Việt Nam được bật đèn xanh thì chúng ta không đáng quan tâm).
Trong tình thế đó, Việt Nam phải làm gì, chẳng lẽ khoanh tay ngồi nhìn khi từng hòn đảo, vùng biển thiêng liêng bị Trung Quốc xâm lấn?
Việt Nam muốn hòa bình nhưng hòa bình không lệ thuộc, Việt Nam kiên quyết bảo bệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên vùng biển Việt Nam được quốc tế công nhận theo UNCLOS.
Do đó, không còn cách nào khác là phải tăng cường tiềm lực quân sự và đối ngoại quân sự để tạo ra thế và lực vững chắc cho đất nước.
Đài “Tiếng nói nước Nga” có bình một câu hay nhưng chưa chính xác, rằng, “Con hổ Việt Nam có móng vuốt Nhật Bản” mà lẽ ra thì “móng vuốt của Nga” mới đúng. Nhưng thật ra, móng vuốt của Hổ chưa quan trọng, quan trọng là thế võ của hổ vồ như thế nào. Tuy nhiên, hổ vồ như nào không phải là điều quyết định, quyết định là nội lực của Hổ. Giống hổ thật đấy, nhưng đói đi không vững thì vồ được ai.
Chúng ta hãy trở lại với luận bàn từ thanh kiếm. Đó là, kiếm dài hay ngắn không quan trọng, quan trọng là kiếm pháp. Tuy nhiên, kiếm pháp tốt hay dở chưa quyết định, quyết định là thanh kiếm gì.
Nếu thanh kiếm đó là một “thanh kiếm báu” như, làm bằng công nghệ nào, chất liệu ra sao để có thể chém sắt như chém bùn…và một thanh kiếm thường, chỉ gặp một cành cây đã quằn, gặp kiếm địch thì bị chém đứt là hoàn toàn khác nhau khi đối đầu.
Chính xác là Việt Nam cần và phải có “thanh kiếm báu” và Trung Quốc quá biết nó sẽ có từ đâu.
Kể từ năm 1945 đến năm 2010, Nhật Bản có 65 năm hòa bình, xây dựng đất nước thành một siêu cường kinh tế, có một nền công nghiệp hiện đại, kỹ thuật công nghệ cao nhất nhì thế giới.
Trong 65 đó Nhật Bản chỉ tồn tại 2 mâu thuẫn với bên ngoài có thể coi như thách thức đến an ninh là CHDCND Triều Tiên và Nga trên quần đảo phía Bắc. Tuy thế 2 mâu thuẫn đó không đủ để biến lực lượng Phòng vệ Nhật Bản “thay tên đổi dạng”, chưa đủ để đánh thức dân tộc Nhật đang “say giấc ngủ hòa bình”. Lưu ý là, nếu như ai đó cho rằng trong 65 năm đó, Nhật Bản không chuẩn bị gì cho tiềm lực quốc phòng là nhầm. Đó không phải là tư duy của một quốc gia có nền công nghiệp hiện đại và quốc gia đang tồn tại đền thờ chiến tranh thế giới lần 2 thì càng không.
Chỉ đến năm 2010, đặc biệt là trong tranh chấp quần đảo Senkaku thì yếu tố Trung Quốc là đủ năng lượng để đepo khởi động bộ máy quân sự, quốc phòng và đánh thức chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản.
Một loạt các sức cản, ràng buộc như Hiến pháp hòa bình Nhật Bản, tâm lý quen hưởng hòa bình vào ô hạt nhân Mỹ, dựa dẫm vào Mỹ trở nên không là gì trước cú tác động của Trung Quốc.
Chiến tranh thế giới lần 2 đã kết thúc 68 năm, trong khi châu Âu đã vĩnh viễn lật sang trang mới những mối oán hận giữa các kẻ thù cũ nhưng vùng ĐBA thì không.
Mối hận thù dân tộc “nỗi nhục 100 năm” của Trung Quốc với Nhật Bản vẫn còn đó và càng lớn dần theo đà trỗi dậy của Trung Quốc, bất chấp Nhật Bản đã từng tạo điều kiện thuận lợi, quan trọng cho sự trỗi dậy thần kỳ của mình.
Tranh chấp quyết liệt Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông đã làm mối quan hệ Trung-Nhật xấu đi đến mức chiến tranh có nguy cơ xảy ra.
Trên Biển Đông. Nếu Trung Quốc biến thành “ao nhà”, khống chế luôn eo biển Malacca thì coi như nền kinh tế Nhật Bản sống hay chết hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn Trung Quốc. Đòn “cắt nguồn cung đất hiếm” Nhật Bản chắc đã nhận đủ từ Trung Quốc và để bắt Nhật Bản thành chư hầu, Trung Quốc có thừa lòng căm hờn và sự quyết tâm để phong tỏa tuyến hàng hải Biển Đông khi cần thiết.
Nếu Việt Nam thất thế, như mất Trường Sa chẳng hạn, lúc đó tuyến hàng hải thương mại, vận chuyển năng lượng bị mất an toàn thì Nhật Bản sẽ rơi vào tình thế nguy hiểm.
Như vậy, có thể nói việc Trung Quốc biến Biển Đông thành “ao nhà” có ảnh hưởng “không thể chấp nhận được” đến 2 quốc gia là Việt Nam và Nhật Bản, cho nên, theo logic thì ngăn chặn âm mưu, hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam và Nhật Bản đều có cùng mục tiêu mang tính “tối thượng” là an ninh quốc gia và chủ quyền.
Hiện tại Nhật Bản có một nền công nghiệp hiện đại nhất châu Á. Mặc dù GDP sau Trung Quốc nhưng chất lượng GDP cao hơn rất nhiều Trung Quốc. Cục diện địa chính trị trong vài năm tới Nhật Bản sẽ là có vai trò chính trên châu Á-TBD trong khi hiện tại “lòng tin chiến lược” Trung-Nhật đã cạn.
Cho nên, đối tác chiến lược với Nhật Bản là đối tác chiến lược với một cường quốc lớn và không có gì thuận lợi hơn là Việt Nam và Nhật Bản cũng như Việt Nam và Nga là đối tác chiến lược của nhau mà không có xung đột lợi ích, vì thế có độ tin cậy, có lòng tin, hoàn toàn khác bản chất với đối tác chiến lược nào đó mà vừa hợp tác vừa kiềm chế nhau.
Đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản chắc chắn một điều là dù có hay không có căng thẳng trên Biển Đông thì Việt Nam và Nhật Bản cũng cần phải tăng cường mối quan hệ vì sự phát triển của 2 quốc gia đầy duyên nợ này.
Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản là nước tư bản lớn đầu tiên có quan hệ ngoại giao với Việt Nam dân chủ cộng hòa. Không phải ngẫu nhiên mà mà nhà yêu nước Phan Bội Châu tìm đường sang Nhật Bản đã được khắc họa trong bộ phim “Người cộng sự” mà Đài truyền hình Việt Nam phát sóng nhân dịp 40 năm quan hệ ngoại giao Việt-Nhật.
Người Việt và đặc biệt là người Nhật không nên để lịch sử lặp lại vì đó là lịch sử đầy đau thương và hối tiếc của 2 dân tộc.
“Lòng tin chiến lược” giữa các quốc gia, dân tộc với nhau là tiền đề của hòa bình và phát triển.