Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

Tại sao Trung Quốc “hoan nghênh” Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam?



Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Obama sẽ không có gì đặc biệt, bởi đây là lần thứ 3 các đời Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam, nếu như không có tuyên bố Mỹ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam tồn tại hơn 4 thập kỷ qua.
Chuyến thăm nhằm xây dựng phát triển mối quan hệ hợp tác song phương Việt-Mỹ, nhưng đặc biệt thay, mối quan hệ đó lại có tác động mạnh đến cục diện dịa chính trị khu vực.
Hợp tác Việt-Mỹ trong thông điệp “bỏ cấm vận vũ khí”
Rõ ràng, đây là một cú đánh hiểm của Mỹ trong cuộc chiến địa chính trị với Trung Quốc trên khu vực Châu Á-Thái Bình dương.
Giới quan sát và giới quân sự thừa hiểu, khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam thì Việt Nam không phải hùng mạnh ngay để bảo vệ lợi ích của mình khi bị xâm hại, mà trước mắt, chủ yếu chỉ là biểu tượng, nhưng là biểu tượng phản ảnh thực tế của một bản chất: Việt Nam và Mỹ đã không còn là kẻ thù, ít nhất về mặt ngoại giao.
Bắt đầu từ đây, Việt Nam có thể giao lưu, mua bán vũ khí không chỉ trực tiếp với Mỹ mà với đồng minh của Mỹ như Ixrael và phương Tây trong khối NATO…những thứ mình cần, tùy theo túi tiền, tùy theo yêu cầu chiến thuật của mình mà vũ khí Mỹ chưa chắc đã phù hợp.
Tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí của Mỹ với Việt Nam sau một thời gian dài thù địch đã khiến ASEAN có cơ hội và lý do để lựa chọn, vị thế Việt Nam được nâng một bậc, nhưng Mỹ cũng được lợi khi tạo ra được một lòng tin và thế lực đáng kể trong hợp tác với ASEAN.
Hơn ai hết, Trung Quốc thừa hiểu nguyên nhân khiến cho hợp tác Việt-Mỹ tiến triển nhanh chóng, vượt qua nhiều sự “khác biệt” đến không ngờ.
Trung Quốc đã đánh giá thấp tầm nhìn chiến lược, tư duy chính trị của Việt Nam trong tình hình thế giới mới. Trung Quốc đã chủ quan khi cho rằng sự “khác biệt” là rào cản mà Việt Nam, Mỹ khó vượt qua dù cho Việt Nam bị áp lực, bị chèn ép bao nhiêu đi nữa trên Biển Đông.
Nên nhớ rằng, điều kiện để Trung Quốc bắt tay Mỹ năm 1972 không sâu đậm, nhưng Trung-Mỹ vẫn vượt qua được sự “khác biệt” khắc nghiệt, gay gắt vào thời đó, thì ngày nay, động lực để Việt-Mỹ bắt tay hợp tác, vượt qua sự “khác biệt” có điều kiện thuận lợi gấp trăm lần.
Điều người ta chú ý, quan tâm là không phải sau khi bỏ cấm vận vũ khí thì vũ khí Mỹ sẽ ồ ạt vào Việt Nam như thế nào, bởi đó là hoang tưởng mà quan trọng hơn là hợp tác quân sự Việt Nam-Mỹ ra sao để tạo thế và lực của đôi bên trên Biển Đông mới là cốt tử.
Tại sao Trung Quốc “hoan nghênh”?
Về logic, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam là một tín hiệu không tốt lành cho Trung Quốc. Và, tất nhiên, cũng như việc Nga cung cấp trang bị vũ khí hiện đại cho Việt Nam trong phòng thủ biển, đều là tín hiệu không tốt lành cho Trung Quốc.
Bởi đơn giản là vì trong khi Trung Quốc và Việt Nam đang căng thẳng, có nguy cơ xung đột quân sự vì tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông thì bất kỳ vũ khí của ai trong tay quân đội Việt Nam cũng đều khiến Hải quân Trung Quốc (PLAN) phải dè chừng.
Trung Quốc im lặng dù cảm thấy rất bất an khi vũ khí Nga, những loại vũ khí có uy lực lớn, hiện đại, lợi hại dồn dập đến tay Việt Nam là dễ dàng giải thích, bởi chính Trung Quốc cũng mua vũ khí Nga, bởi Nga-Việt có mối quan hệ truyền thống…
Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam, Trung Quốc buộc phải chấp nhận thực tế này trên khu vực khi Mỹ và Trung Quốc đang có mâu thuẫn đối kháng về mục tiêu chiến lược là điều không dễ chịu chút nào, nhưng nếu phản đối công khai thì chứng tỏ Trung Quốc đang lo sợ.
Hiện nay, hơn ai hết Trung Quốc cũng rất mong Mỹ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho mình sau vụ Thiên An Môn. Nếu điều này xảy ra, Trung Quốc cũng không mơ mua được vũ khí CNC hiện đại của Mỹ, nhưng cái Trung Quốc cần là mua được vũ khí từ phương Tây.
Ngay Việt Nam, trong thời gian Mỹ dở bỏ lệnh cấm vận vũ khí một phần thì nhiều hợp đồng vũ khí với Ixrael cũng bị loại bỏ bởi không được sự đồng ý của Mỹ. Do đó, Trung Quốc cũng không tránh khỏi tình trạng này như Việt Nam đã từng.
Trong khi đó, Nga là đối tác chính trong buôn bán vũ khí với Trung Quốc thì Trung Quốc luôn bị Nga bắt bí. Không ít lần giới quân sự Trung Quốc tỏ ra bất bình khi vũ khí Nga bán cho Việt Nam luôn khác với bán cho Trung Quốc cùng loại.
Và, khi nếu có xung đột trên Biển Đông với Việt Nam xảy ra thì liệu với vũ khí Nga có trong tay, Trung Quốc có vấp phải tình trạng như Argentina hay không…cũng là một vấn đề không thể không nghĩ đến của giới quân sự Trung Quốc.
Chính vì vậy, đa dạng hóa vũ khí, tiếp thu, phát triển vũ khí CNC từ nhiều nguồn, tránh phụ thuộc vào Nga là nhu cầu mang tầm chiến lược của Trung Quốc, cho nên, nếu phản đối việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam là tự ghè đá vào chân.
Tuy nhiên Trung Quốc dù “vui mừng” với quan hệ hợp tác Việt Nam-Mỹ hoàn toàn bình thường khi Mỹ bỏ cấm vận vũ khí, song vẫn không quên cảnh cáo Việt Nam và Mỹ rằng, mối quan hệ hợp tác đó “không được chống Trung Quốc, gây bất ổn khu vực”.

Tất nhiên rồi, Việt Nam chẳng quá háo hức đặt trọn niềm tin vào “đối tác toàn diện” mà quên Trung Quốc là láng giềng hữu nghị, là “đối tác chiến lược toàn diện”. Việt Nam rất mong muồn hòa bình hữu nghị với Trung Quốc trên có sở tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Việt Nam với bài toán “cân bằng lực”.



Thành thực mà nói, Mỹ vẫn đang và sẽ là một cường quốc kinh tế, quân sự hàng đầu thế giới. Vì thế hợp tác, quan hệ tốt đẹp với Mỹ, là bạn với Mỹ là mong muốn chung của bất cứ quốc gia nào trong đó có Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam vốn yêu chuộng hòa bình, hữu nghị thì quan hệ hợp tác với Mỹ trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị của nhau….để phát triển xây dựng đất nước giàu mạnh là một mục tiêu đối ngoại quan trọng, hàng đầu của Đảng, nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, thế giới đang dần chuyển hóa thành đa cực bởi sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, của nước Nga…đã tạo ra những sự “cọ xát” quyền lực, địa chính trị mạnh giữa các cường quốc với nhau khiến cho các quốc gia nhỏ bị ảnh hưởng, chi phối rất lớn.
Thế nào là cân bằng lực?
Với sự trỗi dậy mạnh mẽ thực lực nền kinh tế, quân sự, nhà cầm quyền Bắc Kinh không cần che đậy tư tưởng bành trướng, bá quyền nước lớn thâm căn cố đế của mình. Trung Quốc muốn bành trướng xuống Biển Đông với ý đồ chiếm hơn 80% Biển Đông bằng “đường 9 khúc”.
Đương nhiên, hành động này xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam và do vậy quan hệ Trung Quốc-Việt Nam đã trở nên căng thẳng, nguy cơ xung đột quân sự trên Biển Đông và thậm chí một cuộc chiến tranh tổng lực luôn tiềm tàng.
Rõ ràng là, dù có Mỹ xuất hiện trên Biển Đông hay không thì quan hệ song phương Trung Quốc-Việt Nam đều luôn trong tình thế như vậy. Việt Nam luôn phải đối phó với tư tưởng và hành động bành trướng hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc.
Kể từ năm 2012, bằng chiến lược “xoay trục”, Mỹ xuất hiện trên Biển Đông với danh nghĩa vì tự do an toàn hàng hải nhưng thực chất là để đối phó, ngăn chặn ý đồ quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông. Lúc này, Mỹ là lực lượng thứ hai chống Trung Quốc trên Biển Đông.
Sự xuất hiện của Mỹ trên khu vực Biển Đông đã tạo ra một tình thế mới khi không chỉ Việt Nam đơn độc đối phó với Trung Quốc mà cả Mỹ và thậm chí đồng minh của Mỹ cũng vào cuộc khiến cho cơ hội và thách thức về chiến tranh và hòa bình trên Biển Đông là không thể nói trước.
Mục tiêu chiến lược của Mỹ và Việt Nam trên Biển Đông là không trùng khớp nhưng lại tương đồng và thống nhất cao là có chung một đối tượng. Đó là Trung Quốc. Vì thế, sự hợp tác toàn diện Việt Nam-Mỹ, trong đó trọng điểm là hợp tác quân sự là nhu cầu tất yếu.
Điều đặc biệt quan trọng là, sự hợp tác toàn diện Việt Nam-Mỹ với tâm điểm là quân sự ở mức độ như thế nào, ra sao…chính là “phương tiện” để đấu tranh bằng biện pháp hòa bình rất hiệu quả. Hợp tác Việt Nam-Mỹ, hiệu lực, kết quả của nó tạo ra sức răn đe, ngăn ngừa chiến tranh trên Biển Đông.
Đây là vấn đề mà thuật ngữ ngoại giao gọi là “cân bằng lực”, một đối sách có tính khả thi và tối ưu của Việt Nam để xử lý mối quan hệ tay 3 giữa Việt Nam-Trung Quốc-Mỹ trên chiến trường Biển Đông.
Làm sao để “cân bằng lực” trên Biển Đông theo ý muốn mà vẫn thực hiện được chính sách quốc phòng “3 không” của Việt Nam, đó là một nghệ thuật, đòi hỏi tài trí của giới tinh hoa chính trị đầu não Việt Nam.
Trong tình thế này, Trung Quốc và một số thế lực thù địch muốn xúc xiểm, hạ thấp vai trò vị thế Việt Nam nên rêu rao ngạo mạn cho rằng Việt Nam đang “đi dây” giữa Trung Quốc và Mỹ để che đậy âm mưu, hành động xấu xa với Việt Nam mà thôi. Bởi vì, có Mỹ hay không có Mỹ trên Biển Đông thì Việt Nam vẫn phải đối phó với Trung Quốc.
Mỹ đã “chuyền bóng vào chân” Việt Nam
Khi Mỹ đã tuyên bố dỡ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam thì có nghĩa hợp tác an ninh quốc phòng Việt Nam-Mỹ là không có rào cản. Việt Nam có thể mua vũ khí Mỹ, Việt Nam có thể tập trận chung với Mỹ, Việt Nam có thể hợp tác cùng Mỹ xây dựng các trung tâm thông tin, quan sát an toàn Biển Đông, chia xẻ tin tức…
Vấn đề là tùy thuộc vào Việt Nam tùy chọn như thế nào, ra sao, trong hợp tác với Mỹ nhằm tạo điều kiện tốt cho đấu tranh bằng biện pháp hòa bình có hiệu quả, tạo ra sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh mà thôi. Nghĩa là Việt Nam phải giải tốt bài toán “cân bằng lực” như đã nói trên.
Có thể nói diễn biến trên Biển Đông có 2 vấn đề rất quan trọng mà Việt Nam nhận thức rõ để đừng quá háo hức, lạc quan tếu, chủ quan mất cảnh giác, có thể đưa con thuyền Việt Nam vào những vòng xoáy nguy hiểm, không mong muốn.
Thứ nhất về mâu thuẫn. Trên Biển Đông chỉ tồn tại 2 mâu thuẫn đối kháng đó là mâu thuẫn giữa Trung - Mỹ và mâu thuẫn Trung - Việt mà không có mâu thuẫn Việt - Mỹ.
Thứ hai là mục tiêu chiến lược của Mỹ trên Biển Đông có tính chất “vạn biến”, nghĩa là khi cần thiết Mỹ có thể thỏa hiệp với Trung Quốc nhằm thu lợi ích nhiều hơn, hoặc thỏa hiệp khi căng thẳng đã đến “điểm sôi” để tránh chiến tranh xảy ra giữa Trung-Mỹ.
Trong khi đó, mục tiêu chiến lược của Việt Nam trên Biển Đông có tính “bất biến”, nghĩa là không thể thỏa hiệp vì đây là chủ quyền lãnh thổ. Việt Nam sẵn sàng chấp nhận chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc nếu như chủ quyền biển đảo bị xâm hại.
Có thể coi như đây là 2 cơ sở, nguyên tắc cơ bản, nòng cốt, để giải quyết bài toán khó “cân bằng lực” trên Biển Đông của Việt Nam khi Mỹ đã bỏ lệnh cấm vận vũ khí.
Mục tiêu chiến lược của Mỹ là ngăn chặn và chống Trung Quốc nhưng Mỹ không hành động vì mục tiêu chiến lược của Việt Nam, đó là, Mỹ tuyên bố Mỹ không can thiệp và ủng hộ bên nào trong việc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.
Nếu Việt Nam hành động cho mục tiêu chiến lược Mỹ, chẳng hạn như tuần tra chung với Mỹ trên Biển Đông, thì đó được coi như là hợp tác với Mỹ để chống Trung Quốc. Điều này vừa trái ngược với chính sách quốc phòng “3 không” của Việt Nam vừa gây căng thẳng với Trung Quốc.
Tuy nhiên, cung cấp các dịch vụ cho các tàu Mỹ tại cảng quốc tế Cam Ranh lại là chuyện bình thường, vì đó là hoạt động thương mại. Hay, hợp tác xây dựng, khôi phục trung tâm quan trắc “an ninh hàng hải” tại Sơn Trà…là hợp lý, không thể coi là chống Trung Quốc.

Nói chung bóng đã đến chân, Việt Nam có rất nhiều tùy chọn. Lúc nào, như thế nào, ra sao, ở đâu…thuộc về kinh nghiệm chiến trận dày dạn của Đảng cầm quyền Việt Nam.

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

Tái cân bằng lực lượng, Mỹ-Trung ai thắng ai?


Liệu Mỹ có “tái cân bằng lực lượng” hay thực chất là tập hợp lực lượng để đối phó, ngăn chặn được Trung Quốc từ Biển Đông?
Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama (từ 23-25/5) đang là tâm điểm được cả thế giới chú ý. Bởi đây là một sự kiện lớn, mang tầm quốc tế, vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường của quan hệ song phương Việt-Mỹ, dẫu trọng tâm của chuyến thăm lại là bàn về phát triển mối quan hệ giữa hai đối tác từng là cựu thù này.
Bỏ cấm vận vũ khí không chỉ là biểu tượng!
Trong tình hình hiện nay, việc bãi bỏ cấm vận vũ khí hoàn toàn với Việt Nam của chính quyền Mỹ không chỉ là biểu tượng mà còn mang ý nghĩa chiến lược toàn cầu rất quan trọng của Mỹ. Và thú vị thay, chính bãi bỏ cấm vận hay không lại là áp lực lớn với Mỹ chứ không phải là Việt Nam.
Rất nhiều và ngay cả trong giới chính khách Mỹ đều cho rằng dù Việt Nam-Mỹ đã bình thường hóa, trở thành đối tác toàn diện song  vẫn tồn tại sự không bình thường, đó là Mỹ vẫn đang cấm vận vũ khí với Việt Nam mà nguyên nhân chính là nhân quyền, dân chủ.
Hà nội cho rằng cái gọi là nhân quyền, dân chủ của Mỹ áp dụng vào Việt Nam là mầm móng của sự bất ổn xã hội, là một trong những thành tố của công thức “Cách mạng màu”, (cụ thể như: thành phần đối lập, tài trợ của nước ngoài, biểu tình, bạo loạn, lật đổ…) đe dọa tồn vong của chế độ.
Hà Nội sẽ lựa chọn những điều hay, phù hợp về nhân quyền dân chủ Mỹ để áp dụng vào Việt Nam và thậm chí để tạo lòng tin, Hà Nội sẵn sàng áp dụng những điều không muốn, chưa muốn, vì chưa phù hợp, nhưng khi những điều đó nằm trong tầm kiểm soát của Hà Nội.
Khi Wasington chuyên dùng cái gọi là nhân quyền, dân chủ để gây áp lực chính trị, ra điều kiện với các quốc gia khác không theo Mỹ thì việc Hà Nội không thỏa mãn những điều này và do đó cấm vận vũ khí vẫn tồn tại là điều đương nhiên.
Một câu hỏi đặt ra là, nếu như lấy nhân quyền, dân chủ kiểu Mỹ làm tiêu chuẩn thì Arabia Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ…có nền dân chủ, nhân quyền còn xa  tiêu chuẩn Mỹ hàng trăm lần so với Việt Nam, nhưng tại sao Mỹ vẫn bám lấy những quốc gia này, thậm chí là đồng minh quân sự như Thổ Nhĩ Kỳ?
Như vậy, rõ ràng là quan hệ với quốc gia đó có lợi ích chiến lược, lợi ích quốc gia gì với Mỹ mới là quyết định còn vấn đề nhân quyền, dân chủ giống hay khác Mỹ chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích trong quan hệ quốc tế của Mỹ.
Dó đó, vai trò, vị thế Việt Nam trong mối quan hệ với Mỹ như thế nào mới quyết định Hà Nội và Wasington cùng nhau đi tiếp hay dừng lại thông qua chỉ dấu “cấm vận vũ khí”.
Chỉ dấu “cấm vận vũ khí” trong quan hệ Việt-Mỹ?
Trong quan hệ quốc tế, việc mua, bán vũ khí nhau không chỉ là vấn đề tiền bạc mà quan trọng hơn là biểu hiện lòng tin. Vũ khí được bán cho người mua là bạn, không phải là kẻ thù. Ngoài ra đắt mấy cũng không bán.
Nếu Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận vũ khí với Việt Nam thì điều đó chứng tỏ đôi bên chưa có đủ lòng tin về nhau. Đó là lý do vì sao mọi con mắt đổ dồn về vấn đề Mỹ bỏ cấm vận vũ khí hay không trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Obama đến Việt Nam sắp tới.
Toan canh chuyen tham My lich su cua TBT Nguyen Phu Trong hinh anh 7
Đã đến lúc Việt-Mỹ “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, pháy huy tương đồng, hướng tới tương lai”.
Đáng tiếc là nếu tiếp tục cấm vận thì lợi ích quốc gia Việt Nam-Mỹ bị thiệt hại nghiêm trọng.
Với Việt Nam. Nếu chỉ đơn thuần là vũ khí Mỹ, thì không mấy quan trọng và cần thiết với Việt Nam vì 90% vũ khí của quân đội Việt Nam đều của Nga và với vũ khí đó Việt Nam đủ khả năng buộc kẻ thù trả giá đắt khi xâm phạm chủ quyền.
Bằng chuyến xuất ngoại đầu tiên của vị tân Bộ trưởng QP Ngô Xuân Lịch đến Nga, Việt Nam cũng đã gửi một tin nhắn đến Mỹ là hợp tác quốc phòng để bảo vệ chủ quyền biển đảo thì Nga-Việt Nam vẫn là mối ưu tiên đặc biệt với độ tin cậy cao.
Nga cũng chứng tỏ bằng việc triển khai nhanh việc đóng cặp tàu Gerpad thứ 2 cho Việt Nam nhanh kỷ lục với uy lực, cấu hình theo yêu cầu cao của Việt Nam…
Vì thế cấm vận vũ khí hay không, với Việt Nam chỉ là biểu tượng, Việt Nam không hề bị áp lực với chuyện này.
Có điều, sự phát triển mối quan hệ Việt Nam-Mỹ mới khiến Việt Nam quan tâm. TBT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm Mỹ tuyên bố: Gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai là tư tưởng, hành động của Việt Nam muốn là bạn với Mỹ.
Thiếu lòng tin, Việt Nam sẽ như thế nào trong TPP với Mỹ, làm sao để phát huy sự tương đồng trên Biển Đông?...Đó chẳng phải là lợi ích quốc gia Việt Nam?
Với Mỹ. Nếu như chiến lược xoay trục sang Châu Á-Thái Bình dương, Mỹ lấy ASEAN làm trọng tâm và Việt Nam là trọng điểm thì cấm vận vũ khí Việt Nam có nghĩa là chiến lược của Mỹ không có trọng điểm.
Hơn ai hết Mỹ quá hiểu vai trò, bản lĩnh của ASEAN trước khi Việt Nam, Lào, Campuchia tham gia là như thế nào, Mỹ hiểu Việt Nam sẽ ở đâu trong cục diện địa chính trị ĐNA. Do đó, Việt Nam trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lược Châu Á-Thái Bình dương của Mỹ.
Cấm vận vũ khí, nghĩa là về nguyên tắc Mỹ vẫn coi Việt Nam là kẻ thù, hay như một số người nói là chiến tranh Mỹ-Việt Nam vẫn chưa kết thúc, điều đó khiến cho Mỹ không có lợi thế Việt Nam trong chiến lược đối phó với Trung Quốc trên Biển Đông.
Vậy, cái gọi là nhân quyền, dân chủ của Mỹ có được thực thi hay không ở Việt Nam liệu có ảnh hưởng gì đến lợi ích quốc gia, an ninh Mỹ? Liệu cái nhân quyền, dân chủ đó ở Việt Nam có ngăn chặn được việc Trung Quốc biến Biển Đông thành ao nhà, đe dọa an ninh bờ Tây nước Mỹ?
Có thể nói, tại khu vực Châu Á-Thái Bình dương này, nếu như Mỹ Mỹ đang triển khai chiến lược “tái cân bằng” thì Nga và đặc biệt là Trung Quốc cũng không ngồi nhìn khi Mỹ cứ kéo dần lực lượng về phía mình để đối phó, ngăn chặn Trung Quốc.
Trung Quốc, Nga sẽ hành động tập hợp lực lượng  ra sao để chống Mỹ hay ít nhất để không bị cô lập? Mỹ có bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam không và Việt Nam sẽ xử lý ra sao mối quan hệ với Mỹ khi Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận?

Bài viết sẽ hoàn thành trước khi Tổng thống Mỹ Obama đặt chân xuống sân bay Nội Bài-Hà Nội.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

Rạn nứt chiến lược Việt-Nga vì Biển Đông?


Điều Việt Nam cần là hãy ủng hộ Việt Nam thật lòng, không kèm theo điều kiện, bằng hành động, để Việt Nam mạnh lên về kinh tế, về quân sự.
Tuyên bố mới đây về quan điểm của Nga bởi Ngoại trưởng Nga Lavrov đã không làm hài lòng Việt Nam. Tất nhiên, quan điểm này của Nga, Việt Nam không ngạc nhiên, bất ngờ, vì đã biết rõ tính phức tạp, sự tế nhị, trong mối quan hệ Việt-Nga-Trung từ lâu.
Chuyến xuất ngoại đầu tiên sang Nga của tân Bộ trưởng QP Việt Nam
Ngô Xuân Lịch
Tuyên bố của Nga công khai thì Việt Nam phản ứng công khai, như tuyên bố của người phát ngôn Bộ NG Việt Nam mà chúng ta đã biết, thế thôi.
Có điều xung quanh vấn đề này đã khiến cho giới bài Nga thân Mỹ thì tha hồ phân tích mổ xẻ, rằng, Nga đã coi nhẹ Việt Nam hơn Trung Quốc, Nga đã sổ toẹt mối quan hệ truyền thống, tin cậy…lâu nay chỉ vì lợi ích quốc gia của họ là trên hết…Và, cái kết cuối cùng, Mỹ là sự lựa chọn tối ưu…
Đằng sau tuyên bố của Nga về Biển Đông là gì?
Tuyên bố của Nga gồm 2 điểm: Không ủng hộ quốc tế hóa vấn đề biển Đông và ủng hộ giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua đối thoại trực tiếp giữa các bên trên cơ sở phải dựa vào UNCLOS.
Có thể khẳng định chắc chắn là trong tuyên bố đó Nga, trong bối cảnh Tòa trọng tài thường trực (PCA) sắp phán quyết trong vụ Philipines kiện Trung Quốc vi phạm UNCLOS (đường 9 khúc), đã đứng về phía Trung Quốc trong việc phản đối quốc tế hóa, chống can thiệp vào Biển Đông.
Điều cần lưu ý thứ nhất là, đáng tiếc, tuyên bố của ngài Lavrov về nội dung không có tính logic, thuyết phục cao vì đầy mâu thuẫn, nên, tất nhiên là không có giá trị cụ thể. Nói cách khác đây là tuyên bố nước đôi.
Cứ cho là đàm phán song phương với Trung Quốc, và đàm phán dựa trên cơ sở UNCLOS, nhưng nếu không thỏa thuận được thì làm sao? Thì chỉ còn cách đưa ra Tòa Án quốc tế về UNCLOS như PCA để phân xử chứ còn cách nào khác?
Điều cần lưu ý thứ hai là, nếu như đánh giá mối quan hệ, độ tin cậy, lòng tin chiến lược…của 2 quốc gia chỉ bằng những tuyên bố công khai của các nguyên thủ quốc gia, chính phủ, nhà nước đôi bên, thì không có quan hệ nào mẫu mực tốt đẹp, hữu nghị…hơn như Việt Nam và Trung Quốc.
Thế nhưng, có thể nói, một sự thật hết sức lố bịch là trên Biển Đông, Trung Quốc nói lời ngon ngọt với Việt Nam bao nhiêu thì hành động ngang ngược, đểu cáng với Việt Nam bấy nhiêu.
Hoạt động ngoại giao thời bình như hoạt động quân sự thời chiến, đều quyết định vận mệnh của đất nước. Vì thế, tuy nội dung khác nhau nhưng tính chất thì không có gì khác nhau, nghĩa là phải lập mưu, cài thế…để đạt mục tiêu đề ra.
Vấn đề là, nói là một chuyện, nhưng hành động lại là chuyện khác. Cho nên, chúng ta quan tâm đến hành động hay quan tâm đên lời nói?
Hành động của Nga trên Biển Đông
Trước hành động bành trướng trên Biển Đông của Trung Quốc, nếu như nói rằng Nga không có hành động gì đáp trả là thiếu hiểu biết.
Việc Mỹ tuần tra trên Biển Đông với danh nghĩa “tự do hàng hải” và giới truyền thông không ngớt tung hô rằng là để thách thức tuyên bố chủ quyền (đường 9 đoạn) của Trung Quốc trên Biển Đông…cũng là chỉ mới đây.
Sự thách thức của Mỹ, kết quả hạ hồi phân giải, nhưng trước mắt chỉ thấy Trung Quốc càng hung hăng thêm, tốc độ cải tạo biến các đảo giữa Biển Đông thành các căn cứ quân sự càng nhanh khiến cho tình hình Biển Đông rất căng thẳng.
Rõ ràng những căn cứ quân sự trên Biển Đông này với Mỹ không là gì, nó chỉ là “Vạn lý trường thành cát”, nhưng với các nước ven Biển Đông là mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh chủ quyền. Vậy, Mỹ có dám chiến tranh với Trung Quốc trên Biển Đông không?
Người Nga không hô hào nhưng đã sổ toẹt cái đường 9 khúc của Trung Quốc từ lâu, bằng việc triển khai nhan nhãn những mỏ dầu khí trong cái “đường 9 khúc” ấy.
Điều đáng tự hào đầy kiêu hãnh của Nga mà người Việt Nam ghi nhận là không phải như Anh, Mỹ, Ấn…bị Trung Quốc đe là rút hết các giếng khoan như đã từng.
Đương nhiên, nếu không có sự hợp tác quốc phòng Việt-Nga thì làm sao Việt Nam có một lực lượng phòng thủ biển đáng gờm như ngày nay, khiến cho những cái đầu nóng của ai đó phải lạnh ngắt khi tính đến chuyện ăn cướp biển đảo của họ.
Quan hệ Việt Nam-Mỹ đã là gì khi Mỹ đang còn cấm vận vũ khí với Việt Nam? Việt Nam không cần lời hay ý đẹp, Việt Nam cần hành động để chứng tỏ sự thân thiện, chứng tỏ như một người bạn.
Chúng ta không đặt ra giải thiết khi Trung Quốc tấn công Việt Nam trên Biển Đông thì Nga sẽ làm gì, Mỹ, Nhật Bản…sẽ làm gì… Mỹ hay Nga hay Nhật Bản…cũng vậy thôi, họ không đánh Trung Quốc vì chủ quyền biển đảo Việt Nam hay của ai.
Do đó, điều Việt Nam cần là hãy ủng hộ Việt Nam thật lòng, không kèm theo điều kiện, bằng hành động, để Việt Nam mạnh lên về kinh tế, về quân sự, thế là đủ. Việt Nam sẽ bảo vệ chủ quyền biển đảo bằng máu của mình.


Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016

Nga đang run sợ kế hoạch B của CIA?


Tại Syria, máu có thể đổ nhiều hơn khi phiến quân có vũ khí hiện đại của các thế lực nuôi dưỡng, như tình thế không thể đảo ngược.
Trước khi hội nghị đàm phán hòa bình cho Syria, Mỹ đã phao tin, đe dọa chính quyền Assad, rằng sẽ có “kế hoạch B” nếu tiến trình tại Geneva bị đổ vỡ.
Kế hoạch B, theo đó, sẽ phân mảnh Syria thành nhiều vùng, chia cắt sự thống nhất của Syria mà Assad mơ ước theo đuổi…
Kế hoạch B này chính là thông điệp đe dọa. Tuy nhiên, lời đe dọa này xem ra rất có lý, phù hợp với tình hình mà thậm chí giới phân tích còn cho rằng nó không khác với ý đồ chính trị của Nga là Liên bang hóa Syria…
Đe dọa Assad là bởi vì lúc đó, Assad đang bị truyền thông Mỹ-PT đề ghép tội phá hoại đàm phán hòa bình. Mỹ gây áp lực để buộc Assad ngồi vào bàn đàm phán ở vào một vị thế như lực lượng đối lập của Mỹ. Nói cách khác Mỹ tung đòn gió để hạ thập vị thế của Assad.
Trong khi đó, Nga tuyên bố rằng, Nga chẳng có kế hoạch B, C gì hết ngoài mục đích tập trung tìm ra một giải pháp hòa bình thông qua đàm phán và nhằm làm tăng thiện chí của mình, Nga tuyên bố rút quân.
Đó là chuyện bên lề trước cuộc đàm phán hòa bình tại Geneva lần thứ nhất do LHQ chủ trì tại Thụy Sỹ.
Bình cũ rượu…cũ
Cũng vẫn “bên lề” cuộc đàm phán lần thứ 2 tiếp tục nhóm họp tại Geneva-Thụy Sỹ, trước đó đã xuất hiện 2 sự kiện quan trọng: Syria tiến hành bầu cử quốc hội và Kế hoạch B của CIA Mỹ “được bị lộ”.
Vì kế hoạch này khác với trước về nội dung chính nên chúng ta tạm gọi là “Kế hoạch B1” của CIA trong khi chính quyền Mỹ phủ nhận kế hoạch này.
Nội dung của kế hoạch này là: Nếu tiến trình hòa bình tại Geneva thất bại thì CIA sẽ cung cấp vũ khí hiện đại cho lực lượng đối lập.
Vũ khí hiện đại này được hiểu là có thể bắn rơi máy bay Nga, tiêu diệt các ụ pháo binh của quân đội Syria…nói chung là chúng sẽ khiến cho Liên minh Nga…không thể làm mưa, làm gió như trước.
Kế hoạch B1 này của CIA không có gì mới nếu như chúng ta nhớ lại tại Ukraine trước và sau khi có Minsk-2. Lúc đó, các nghị sỹ Mỹ, phó Tổng thống Mỹ… đều hô hào viện trợ vũ khí cho Kiev đó sao. Thậm chí họ nổi nóng phê bình chính phủ Mỹ là nhu nhược sợ Nga...
Trước tình hình đó, người Nga rất bình tĩnh, lạnh lùng tuyên bố rằng, nếu Mỹ có cung cấp viện trợ vũ khí cho Kiev đi nữa thì máu có thể bị đổ nhiều hơn, nhưng tình thế thì không thể đảo ngược.
Viện trợ vũ khí cho lực lượng này chống lại lực lượng thứ 3 là một vấn đề nhạy cảm không giống như bán vũ khí theo kế hoạch từ trước.
Chẳng hạn, tại Ukraine, nếu Mỹ cung cấp vũ khí sát thương công khai cho quân đội Kiev thì có nghĩa là Mỹ đã tuyên chiến công khai với người Nga, Nga sẽ đáp trả sòng phẳng chuyện này một cách tương xứng.
Mỹ sẽ làm gì khi Nga bán S-300, S-400 cho Trung Quốc, Iran; Mỹ sẽ làm gì khi Nga bố trí tên lửa sát sườn của Mỹ hay sổ toẹt cái lệnh cấm vận của Mỹ với Triều Tiên…Nói chung, trên thế giới, không thiếu gì quốc gia, lực lượng, cần vũ khí Nga để diệt Mỹ.
Nga đang lo sợ?
Tại Syria, CIA đã cố tình để lộ Kế hoạch cung cấp trang bị vũ khí cho lực lượng đối lập đe dọa không chỉ Assad mà còn đe dọa lực lượng không quân-vũ trụ Nga (VKS). Đúng là trò trẻ con làm nũng với người lớn.
Nếu như lực lượng do CIA huấn luyện đào tạo mà chỉ cần mấy quả tên lửa vác vai bắn hạ được máy bay Nga; có mấy hệ thống phản pháo như đã từng viện trợ cho quân Kiev-Ukraine là có thể khóa miệng được Assad…thì Nga và chính quyền Assad không như bây giờ.
Tại sao khi Nga xuất hiện, thế trận tại Syris đảo ngược, làm sụp đổ chiến lược của Mỹ và liên minh tại Syria, Trung Đông mà CIA không viện trợ cái loại vũ khí như kế hoạch để khỏi ngồi vào bàn đàm phán, buộc quên chuyện “Assad must go”? Nga đâu có cấm CIA làm việc đó?
Nếu CIA cho rằng đó là con bài tẩy có tính quyết định để lật đổ Assad, biến Nga ở Syria thành Liên Xô ở Afganixtan thì việc gì Mỹ, CIA phải nuôi và buộc phải đánh giả IS tốn kém hàng tỷ USD?
Cái lực lượng đối lập, “ôn hòa” được CIA nuôi dạy hùng mạnh, đoàn kết có ý chí chiến chiến đấu, ý chí chính trị…đến vậy sao? Vũ khí là quan trọng nhưng con người mới quyết định. Người ta quá rõ lực lượng quyết định trên chiến trường Syria là ai mà không có quân của CIA nuôi dạy.
Thỏa thuận ngừng bắn ngày 27/2/2016, người Nga không đến nổi ngốc để tạo điều kiện cho phe nổi dậy sau khi bị nện cho tan rã, suy sụp về ý chí, tinh thần, có thời gian hồi phục, tiếp nhận vũ khí hiện đại…chống lại mình.
Lực lượng này đã không còn là đối tượng tác chiến trực tiếp, nguy hiểm của Nga và quân đội Syria nữa. CIA chỉ còn con bài cuối, bất chấp đạo lý là giao những loại vũ khí này vào tay IS mới may ra có thể gây khó khăn cho người Nga.
Nhưng, cũng như tại Ukraine, máu đôi bên có thể đổ nhiều thêm nhưng tình thế thì không thể đảo ngược. Mơ Nga sẽ bị sa lầy ở Syria bởi mấy thứ tên lửa vác vai là mơ giữa ban ngày.
Có điều, cũng nên đặt ra một vấn đề là tại sao Mỹ cứ nhăm nhăm kế hoạch B, C cho giải pháp hòa bình không thành công? Nếu Mỹ thật lòng muốn có hòa bình cho Syria, tại sao Mỹ không đánh giá trung thực nguyên nhân nào khiến đàm phán hòa bình thất bại? Cách khắc phục?...
Cách hành xử mà không cần biết nguyên nhân là áp đặt, thiếu khách quan và thiếu trung thực.

Đúng như người Nga đánh giá “Kế hoạch B” là “trò chơi vô lương tâm và không trung thực” nhằm phá vỡ tiến trình hòa bình cho Syria.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

Cuộc chiến Syria: Tại sao Nga thắng?


“Trùm chăn” quân khủng bố các loại tại Syria để “quăng bom” là một thành công lớn của Nga về mặt chiến thuật quân sự.
Có thể nói, trong chiến dịch quân sự tại Syria, Nga đã thực hiện một loạt mưu kế khiến Mỹ-NATO đau đầu phán đoán, đối phó…nhưng đáng tiếc là dù vậy, Mỹ-NATO cũng chỉ biết sau khi đã lãnh đòn.
Nga đã tinh toán rất kỹ về chiến thuật, chiến lược ngắn hạn cũng như dai hạn và từng bước thực hiện đầy tự tin và khoa học. Nga tìm ra những điểm yếu chết người của Liên minh do Mỹ đứng đầu, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ để lợi dụng triệt để.
“Syria hóa chiến tranh” kiểu Nga!
Người Mỹ đã từng thực hiện 3 phương thức chiến tranh ở Việt Nam: Chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh. Đó là sản phảm trí tuệ của Mỹ và người Mỹ đã đang áp dụng những phương thức chiến tranh này trên thế giới sau cuộc chiến Việt Nam.
Rút kinh nghiệm từ sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, người Nga đã vận dụng sáng tạo 3 phương thức chiến tranh này tại Syria và kết quả là thay vì bại như Mỹ, thì Nga đã thắng. Thắng về quân sự lẫn chính trị trên chiến trường.
Về chiến thuật, Nga đã tiến hành đồng thời 3 phương thức chiến tranh trong đó chỉ một nửa của chiến tranh cục bộ, thay vì như Mỹ tiến hành từng phương thức lần lượt.
Về chiến lược, tại Syria, Nga rất rõ ràng, nhằm mục tiêu cụ thể. Trong khi đó chiến lược của Mỹ thì kiểu “nước đôi”, mập mờ, để đạt mục tiêu chủ yếu là loại Assad, cho nên dẫn đến bị động, do dự, thiếu quyết đoán…như Thổ Nhĩ Kỳ và phương Tây đánh giá.
Chẳng hạn, tại sao Mỹ không nghe Ankara lập vùng cấm bay trước khi Nga nhảy vào can thiệp quân sự? Vì Mỹ sợ Thổ Nhĩ Kỳ trỗi dậy, bá quyền, hưởng lợi ở Syria. Tại sao Mỹ càng không kích IS càng mạnh? Vì Mỹ muốn IS là lực lượng mặt đất chủ yếu tiêu diệt Assad…
Mỹ thừa biết cái đám phiến quân nổi dậy được hậu thuẫn bởi 5 cha 7 mẹ không phải là đối thủ của Assad, ngay cả đám phiến quân do Mỹ đào tạo mà đám do CIA với đám do Lầu năm góc lại đánh nhau tranh giành thì không thể trông đợi bất kỳ điều gì ở đám nào khác.
Có thể nói, sử dụng IS là ý đồ hiểm của Mỹ, nhưng cũng như cách chơi dao, rất nguy hiểm cho chính mình. Nga đã khai thác điều này trong chiến thuật “tương kế tựu kế” đã thành công ngoạn mục.
Về ý chí chính trị, lợi thế của Nga trước Mỹ-NATO là chính quyền Syria  hợp pháp, quân đội Syria trung thành với chính phủ. Biểu hiện là họ tồn tại hơn 4 năm trời chống thù trong giặc ngoài đến kiệt quệ nhưng không tan rã, đầu hàng, như Iraq hay Lybia.
Đây là sự khác biệt rất lớn về ý chí chính trị của chính quyền Syria với chính quyền Saddam và Gaddfi, là lợi thế có tính quyết định để Nga vạch ra chiến lược, mục tiêu, can thiệp quân sự đúng lúc, đúng thời điểm và tin tưởng vào chiến thắng.
Về sức mạnh quân sự, Nga quá mạnh là điều bất ngờ không chỉ riêng ai.
Nga buộc Mỹ-NATO phải thúc thủ, án binh bất động, để quây nhốt, “trùm chăn”, quân khủng bố các loại tại Syria đúng với cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng rồi “quăng bom” không thương xót.
Trong chiến dịch quân sự Nga tiến hành tại Syria, hầu như toàn bộ ý đồ tác chiến của Nga hoàn toàn được thực hiện đúng.
Trước hết, đó là phải “trùm chăn” quân khủng bố các loại, nghĩa là bao vây, cắt đứt mọi nguồn tiếp tế từ bên ngoài. Đó là khống chế vùng trời, làm chủ tuyến biên giới.
 Quân khủng bố tại Syria tồn tại được là nhờ sự hậu thuẫn từ bên ngoài như là động mạch chủ để nuôi sống cơ thể. Cắt đứt động mạch chủ này thì quân khủng bố, thời gian đồng nghĩa với cái chết.
Thực tế cho thấy tuyến biên giới quan trọng nhất giáp Thổ Nhĩ Kỳ, còn hơn 90 km và Aleppo là quân đội Syria chưa kiểm soát, còn lại Nga và liên minh đã làm được điều mình muốn từ đầu năm 2016.
Có thể nói, “trùm chăn” được quân khủng bố là chiến thắng, là không bị sa lầy và Nga đã làm được khi bên trong, bên ngoài tứ phía thọ địch là thành công rất lớn của Nga về mặt quân sự. 
Bắt đầu từ đây, Nga hoàn toàn chủ động chọn đối tượng tác chiến, khu vực tác chiến, mục tiêu tác chiến dễ dàng như chọn đồ chơi trong túi và với lực lượng không quân chiếm lĩnh vùng trời, Nga và quân đội Syria tác chiến như là cuộc đi săn của đại bàng trên đồng cỏ. 
Như chúng ta đã từng biết, mở đầu chiến dịch, đòn tấn công phủ đầu của Nga không phải là vào sào huyệt của IS mà vào phiến quân nổi dậy chống chính phủ các loại vì lúc đó nó là đối tượng nguy hiểm nhất đe dọa an ninh sống còn của chế độ Assad.
 Thỏa thuận ngừng bắn ngày 27/2 lại tạo ra một lợi thế lớn cho quân đội Syria, từ nay họ không lo nhiều về mặt trận sau lưng mà chỉ tập trung vào đối tượng tác chiến chiến lược là IS.
Chỉ có thắng IS, đẩy IS ra khỏi lãnh thổ phía Tây Syria thì cơ may một giải pháp hòa bình cho Syria mới thành hiện thực.
Khi IS bị cô lập, khi IS không có ai dám công khai hỗ trợ vũ khí, đặc biệt là tên lửa phòng không thì không quân Nga các loại sẽ tha hồ làm mưa làm gió trên đầu IS.

Do đó, giải phóng Palmyra, làm gãy xương sống IS mới chỉ là bước đầu và với thế trận này thì việc IS bị đánh tan hoặc tháo chạy khỏi Syria là không tránh khỏi.
(Xem tiếp: Cuộc chiến Syria: Mỹ mắc mưu kế Nga)

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

Cuộc chiến Syria: Mỹ đã mắc mưu kế Nga


Đẳng cấp cao nhất trong mưu kế nhà binh là dùng đòn “tương kế tựu kế”, đó là biến âm mưu, sức mạnh của địch để thực hiện ý đồ tác chiến của ta, cộng hưởng sức mạnh cho ta.
Trong chiến tranh, vũ khí trang bị hiện đại, quân linh thiện chiến…chỉ là chân, tay, không mang tính quyết định thành bại của cuộc chiến. Bộ tham mưu của cuộc chiến, nơi chỉ huy thực hiện mưu kế tác chiến, mới là bộ óc, quyết định thành bại.
Vì vậy, thắng kẻ địch trên chiến trường thì phải có mưu sâu, kế cao hơn địch. Và, thực tế trên chiến trường Syria, Mỹ-NATO đã bị mắc mưu kế của Nga, nói cách khác bị ăn một cú lừa ngoạn mục của Nga.
Chiến dịch nghi binh mang tên Aleppo
Đại thắng mùa xuân năm 1975 của Việt Nam đã hơn 40 năm. Mỹ có thể quên tất cả nhưng có một điều mà giới quân sự không thể quên vì nó đã đưa vào giáo án quân sự kinh điển, đó là chiến dịch nghi binh của QĐNDVN trong chiến dịch Tây Nguyên.
Nghi binh không đơn giản chỉ là vài hành động nhỏ lẻ tầm chiến thuật mà phải quy mô cấp chiến dịch mới lừa được một đối phương có một bộ máy chiến tranh tình báo, trinh sát đồ sộ như Mỹ.
Tại Syria, Nga cũng thực hiện một chiến dịch nghi binh tài tình không kém, khiến cho Mỹ-phương Tây với những tinh hoa chính trị quân sự uyên bác cũng bị hút vào chiến dịch này. “Aleppo”, cái tên khiến cho giới quân sự liên tưởng đến “Thuần mẫn-Đắc Lắc” của Việt Nam.
Rất nhiều nhận định cho rằng, Aleppo là trận quyết chiến chiến lược của Nga và Syria mà chiến thắng sẽ là thứ có sức nặng nhất, Nga-Syria đem đến bàn đàm phán. Nghĩa là Aleppo quyết định thành bại cho cuộc đàm phán đôi bên diễn ra tại Geneva.
Trước thỏa thuận ngừng bắn có hiệu lực từ ngày 27/2 để mở đầu cho hội nghị đàm phán hòa bình tại Geneva do LHQ tổ chức thì Nga và quân đội Syria, Hezbolla đã tổ chức tấn công bao vây Aleppo.
Diễn biến chiến sự lúc đó, không ai là không nghĩ rằng Aleppo đã đến lúc cài thời gian đếm ngược.
Nguy cơ thất thủ của Aleppo chỉ là vấn đề thời gian khiến Thổ Nhĩ Kỳ hoảng hốt và cuồng loạn đối phó. Những tuyên bố của Ankara, của nhà Saudi về việc đưa bộ binh tràn vào Syria cứu nguy Aleppo đã chứng minh điều này.
Tuy bị áp lực lớn từ bên ngoài bởi những tuyên bố rắn, động binh rầm rộ nhưng Nga và Syria bỏ ngoài tai. Hành động điều quân, không kích tăng cường đã chứng tỏ ý chí quyết tâm của Nga và liên quân là không gì ngăn cản được việc giải phóng Aleppo. Quả đấm đã tung ra là không thể thu lại.
Kết quả là Mỹ buộc phải yêu cầu và thỏa thuận với Nga ngừng bắn để cứu nguy, giống như trọng tài xin ngừng trận đấu để hội ý, nhưng vừa để giảm hưng phấn của đối thủ.
Nga chỉ chờ có thế, OK ngay với điều kiện là chỉ ngừng bắn với danh sách Mỹ, Nga đã chọn, còn lại thì Nga vẫn “quăng bom” bình thường. Đồng thời, Nga, Mỹ phối hợp giám sát lệnh ngừng bắn, ai vi phạm sẽ bị trừng trị.
Sau thỏa thuận ngừng bắn, 2 tuần sau, Nga bất ngờ tuyên bố rút quân ra khỏi Syria.
Mỹ-NATO đang nghi ngờ, theo dõi, phán đoán hành động của Putin thì chưa đầy 2 tuần sau, Nga và quân đội Syria bất ngờ dùng toàn lực, tung một quả đấm nhanh, mạnh, giải phóng Palmyra từ tay IS.
Vậy là đến đây, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã “lật bài”. Nước cờ Putin trên chiến trường Syria đã lộ rõ, rất dễ để nhận ra.
Một, Aleppo chỉ là đòn nghi binh, dùng để có được thỏa thuận ngừng bắn chứ Nga chưa dại động vào “tổ ong bò vẽ” Aleppo, điểm nhạy cảm gắn chặt với “lợi ích quốc gia” của nhiểu nước...để rồi phải đối phó với những tình huống tác chiến ngoài dự tính.
Đòn nghi binh thành công, Nga được lợi lớn (1) vì dù có gan to bằng trời, thì Ankara và nhà Saudi cũng không dám hành động ngang ngược tại Syria trái lệnh Mỹ. (2) Quân đội Syria chỉ lo tập trung vào một mục tiêu khác rất quan trọng, chủ yếu, là IS.
Nga tài tình thực hiện “tương kế tự kế”
Đẳng cấp cao nhất trong mưu kế nhà binh là dùng đòn “tương kế tựu kế”, đó là biến âm mưu, sức mạnh của đối phương để thực hiện ý đồ tác chiến của ta, tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh cho ta.
Thế trận Syria, thay vì như nhiều người tưởng, chiến thắng Aleppo quyết định thành bại chiến trường Syria và quyết định thành bại giải pháp chính trị cho Syria là hoàn toàn sai lầm.
Chính chiến thắng IS mới là quyết định sự thành bại của chiến trường và đàm phán hòa bình cho Syria. Vì thế,  Palmyra mới là một “Stalingrat” và giải phóng Palmyra là một chiến thắng có tầm chiến lược, khiến IS bị choáng váng, gãy xương sống…chứ không phải là Aleppo.
Giải thích cho điều này là, các phe phái đối lập đàm phán tại Geneva “lên gân” với Assad, không những thế, ngay cả Anh, Pháp, Mỹ…cũng thế, đều dựa vào và lấy uy thế của IS để ra bài với Nga và Syria.
Có nghĩa là, khi IS tháo chạy khỏi Syria thì Mỹ, Anh…không có gì trên bàn đàm phán. Phiến quân các loại không phải là đối thủ của Assad, cho nên, đó là lý do vì sao khiến Mỹ và PT nhẹ nhàng và nhân nhượng IS, đánh giả vào IS là vậy.
Rõ ràng, trên danh chính ngôn thuận thì IS là mục tiêu mà Mỹ và liên minh hơn 60 quốc gia phải tiêu diệt. Mỹ đã tiêu tốn hàng tỷ USD để thực hiện, nhưng khi chúng bị tiêu diệt, sắp đến ngày tận số bởi Nga thì Mỹ “đau lòng” khôn tả mà không biết làm gì, kêu ai.
IS sắp tới sẽ bị Nga và quân đội Syria đánh quyết liệt mà không thể có ai dám công khai ngăn cản như đã từng ngăn cản chiến dịch quân sự phía Bắc Syria, Aleppo mà Nga từng triển khai.
Có thể nói, đây là cú “gậy ông đập lưng ông” của Nga cực hay và thú vị đến mức, giải phóng Palmyra, cả thế giới “Bravo Putin” thì Mỹ, Anh… “ngậm hột thị”, không đón nhận, chỉ đổ lỗi cho Assad.
Đến đây, ý đồ, mục tiêu tác chiến Putin đã lộ rõ mà có biết cũng không thể đảo ngược: Nga và liên minh nhằm phía Đông thẳng tiến đến thành trì, sào huyệt cuối cùng của IS tại Syria.

Đàm phán hòa bình, tìm giải pháp chính trị thành công cho Syria khi chỉ khi IS tháo chạy hoặc bị tan rã tại Syria.