Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016

Rút khỏi UNCLOS, Trung Quốc sẽ dùng “luật rừng”?


Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông khi không tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS thì chỉ có thể là biện pháp quân sự.
Luật pháp quốc tế trên biển có “tính lịch sử và truyền thống phải được tôn trọng” như tuyên bố của Mỹ, đó chính là UNCLOS.
Tranh chấp trên Biển Đông, tự do an toàn hàng hải trên Biển Đông phải luôn lấy UNCLOS để giải quyết mà ngay cả Mỹ-cường quốc quân sự, kinh tế số 1 thế giới, dù không phải là thành viên của UNCLOS cũng đã, đang tôn trọng, tuân thủ.
Điều gì sẽ xảy ra nếu như, Trung Quốc, một nước lớn thuộc bên tranh chấp, một nước lớn có sức mạnh quân sự hùng hậu, có tư tưởng bành trướng lại bất chấp luật lệ trong phương cách giải quyết?
UNCLOS dưới góc nhìn an ninh chủ quyền
Tuyên bố lãnh hải quốc gia là tuyên bố chủ quyền trên biển của quốc gia đó. Đây là mấu chốt vấn đề mà nhiều quốc gia từ việc tuyên bố lãnh hải của mình rộng bao nhiêu hải lý đến việc phê chuẩn để trở thành thành viên của UNCLOS hay không.
Trước khi có UNCLOS, tùy theo khả năng quốc phòng mà các quốc gia ven biển tuyên bố vùng lãnh hải của mình. Những nước có lực lượng hải quân hùng hậu thường tuyên bố lãnh hải hẹp, những nước yếu thì tuyên bố rộng hơn.
Với Trung Quốc. UNCLOS trước đây luôn là điều kiện và phương tiện để Trung Quốc bảo vệ an ninh chủ quyền.
Trong tình hình thế đang bị đẩy vào cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Mỹ đưa Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, can thiệp và đe dọa Trung Quốc thì ngày 4/9/1959, Bắc Kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý.
Cuộc khủng hoảng lần thứ 3 từ tháng 7/1995 đến ngày 11/3/1996. Mỹ cũng lập tức điều 2 nhóm tàu sân bay chiến đấu đi vào eo biển Đài Loan sẵn sàng quyết chiến, khiến Trung Quốc lùi bước, xuống thang để “tránh xung đột với Mỹ”.
Và chính thời điểm này, năm 1996, không còn cách nào khác, Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dù rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc thời đó thừa biết tại sao Mỹ không phê chuẩn UNCLOS và rất muốn cũng như Mỹ, bởi tư tưởng bành trướng, cậy mạnh vốn có của mình.
Như vậy, tuyên bố lãnh hải 12 hải lý và tiếp theo là phê chuẩn UNCLOS năm 1996 của Trung Quốc xảy ra chỉ khi khả năng quân sự của Trung Quốc không đủ sức ngăn cản được Mỹ trên eo biển Đài Loan, vùng biển này có nguy cơ mất an toàn khi Hải quân Mỹ tự tung tự tác.
Việc Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dùng nó làm vũ khí đấu tranh, hạn chế được sự “tự do hàng hải” của Mỹ hoặc ít nhất làm cho Mỹ do dự, tính toán khi muốn “tự do hàng hải” kiểu Mỹ trong vùng biển thuộc điều chỉnh của UNCLOS mà Trung Quốc đã phê chuẩn.
Việt Nam cùng các quốc gia khác trên Biển Đông không muốn chiến tranh, muốn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên có sở luật pháp quốc tế và do đó cũng như Trung Quốc trước đây, UNCLOS chính là phương tiện và điều kiện để đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền.
Chính UNCLOS ngăn chặn dã tâm bành trướng chủ quyền của Trung Quốc về mặt pháp lý, nên thế lực diều hâu trong giới cầm quyền Bắc Kinh, khi cảm thấy có chút cơ bắp, lập tức phê phán các bậc tiền bối đã phê chuẩn UNCLOS, cho rằng đây là công ước “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc.
Sự “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc mà UNCLOS tạo ra chỉ có thể là bành trướng chủ quyền biển đảo.
Tình thế Biển Đông khi Trung Quốc rút khỏi UNCLOS
Vụ kiện của Philipines đang sắp đến giờ phán quyết có lợi cho Philipines, có nghĩa là cơ sở về tuyên bố “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là không có giá trị. Đây là một thắng lợi về mặt pháp lý và tất nhiên sẽ là trọn vẹn, lý tưởng hơn nếu như Trung Quốc tuân thủ phán quyết của Tòa.
Đáng tiếc là Trung Quốc đã cho thấy họ không bao giờ tuân thủ. Trung Quốc đã dùng rất nhiều cách để chống phá, trong đó đe dọa là sẽ rút khỏi UNCLOS.
Tàu sân bay Mỹ đến Biển Đông để “làm chỗ dựa cho Philipines” hay là để “làm mồi” cho Trung Quốc rút khỏi UNCLOS?
Việc Trung Quốc rút khỏi UNCLOS lợi, hại với Trung Quốc như thế nào là việc tính toán của Bắc Kinh. Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm là tình thế Biển Đông khi Trung Quốc rút khỏi UNCLOS.
Rút khỏi UNCLOS, Trung Quốc sẽ như Mỹ, không thuộc điều chỉnh của UNCLOS, lúc đó, Trung Quốc liệu có hành xử như Mỹ hay không?
Thực tế cho thấy, Mỹ không có tranh chấp vùng biển, đảo với ai và do đó chưa có quốc gia nào kiện Mỹ vi phạm UNCLOS. Không những thế, “Lập trường của Mỹ rất rõ ràng, rất đúng với luật biển. Mỹ muốn sự tự do hàng hải, hàng không, mang tính lịch sử truyền thống phải được tôn trọng” (Tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ tại Đối thoại chiến lược và kinh tế Trung - Mỹ ngày 7/6/2016).
Trong khi đó, Trung Quốc đang có tranh chấp trên biển với Nhật Bản, Việt Nam…ở Tây TBD thì liệu có biện pháp nào để giải quyết tranh chấp bằng hòa bình nếu như không có cơ sở pháp lý chung (UNCLOS) để xử lý?
Trong một cuộc tranh chấp mà không có luật lệ thì “ai mạnh nấy được” là cách thức, biện pháp giải quyết duy nhất buộc kẻ yếu chỉ có 2 sự lựa chọn hoặc là chiến tranh hoặc là đầu hàng. Vì vậy, rút khỏi UNCLOS là nguy cơ Trung Quốc sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để giải quyết tranh chấp.
Có thể nói, đây mới là sự nguy hiểm nhất, nguy cơ đe dọa đến an ninh chủ quyền của các quốc gia trong khu vực nhất, trong tình thế Trung Quốc tuyên bố rút khỏi UNCLOS.
Rút khỏi UNCLOS ngay sau phán quyết có nghĩa Trung Quốc tuyên bố chính thức công khai rằng, sẽ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp quân sự mà  bước đi đầu tiên rất dễ đoán là tuyên bố ADIZ trên Biển Đông.
Đến đây, chúng ta có thể hiểu rằng, khi có sự hung hăng, bất chấp, sẵn sàng dùng biện pháp quân sự của Trung Quốc thì các quốc gia trong khu vực, đặc biệt những quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông sẽ làm gì, đầu hàng hay đoàn kết liên minh với nhau, với Mỹ…?
Mỹ đã xoay trục sang Châu Á-Thái Bình Dương mà Biển Đông được coi như là một khu vực trọng điểm quyết chiến chiến lược cả về địa chính trị lẫn địa quân sự với Trung Quốc.
Càng hung hăng, bất chấp, Trung Quốc càng cô độc, càng dễ bị Mỹ đưa vào tròng.

May thay, Trung Quốc chưa đủ khả năng và thừa khôn ngoan để không mạo hiểm thách thức tất cả như vậy.

Brexit 'tự diễn biến hòa bình' kiểu Anh


Bất kỳ một nền dân chủ nào, tư sản hay vô sản cũng phải trong khuôn khổ, có định hướng để phục vụ cho mục đích của giai cấp. 
Trưng cầu dân ý để quyết định hướng đi của đất nước là hoạt động dân chủ với hình thức cao nhất. Tại đây, dân quyết định trực tiếp con đường phát triển của đất nước…mà buộc chính phủ, nhà nước, là cơ quan ăn tiền thuế của dân hay do dân, vì dân, theo từng cách gọi…phải thực hiện.
Do đó, trưng cầu dân ý, kết quả có giá trị cao, đúng, chính xác, nó phụ thuộc hoàn toàn vào dân trí.
Ở một đất nước có nền dân trí thấp thì phải luôn luôn lấy tư tưởng: “chân lý không thuộc số đông”, nhưng ở nước Anh, người dân có trình độ dân trí cao, có nền dân chủ lâu đời…thì khi đã trưng cầu dân trí thì kết quả của nó không phải là để đùa.
EU và chính quyền nước Anh “tá hỏa”
EU không muốn Brexit là đương nhiên bởi vì nước Anh có một vị trí kinh tế thứ 2 trong liên minh. Khi Anh rời EU thì lập tức EU không còn là một trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
Anh rời EU sẽ kéo theo một hệ lụy là các nước khác sẽ rời bỏ khi cần mà đã có dấu hiện xuất hiện tại 4 quốc gia, khiến nguy cơ tan vỡ EU không phải là trên lý thuyết.
EU như con thuyền lớn trong cơn dông bão thì vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm người Anh rời thuyền, lên con thuyền khác, bỏ lại đám thủy thủ lau nhau, rách nát, ốm yếu. Về cơ bản, nước Anh rời EU thì EU coi như mất hết sức sống.
Với nước Anh thì chính quyền đứng đầu là Thủ tướng David Cameron cũng không bao giờ muốn nước Anh rời bỏ EU.
Đừng tưởng rằng nước Anh đang yên đang lành mà ông Cameron lại “nổi hứng” bày ra việc nguy hiểm đến sinh mạng chính trị của mình như vậy. Có 2 lý do để khiến ông Cameron và bộ tham mưu của ông ta quyết định trưng cầu dân ý:
Một là do thủ đoạn chính trị, nên buộc ông Cameron phải hứa trưng cầu dân ý trong cuộc bầu cử vừa qua nếu ông trúng cử và sau khi trúng cử, dưới áp lực chính trị mạnh mẽ, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng di cư…buộc ông Cameron phải thực hiện lời hứa của mình.
Hai là chính phủ hiện tại không nghĩ rằng người dân Anh lại chọn rời EU vì họ tin tưởng chắc chắn rằng đa số người dân Anh sẽ bỏ phiếu ở lại EU nếu như khi trưng cầu dân ý.
Chính vì thế, sau khi có kết quả thì sốc, “tá hỏa”, đầu tiên chính là nước Anh. EU choáng váng, nước Anh không hối kịp, Thủ tướng Anh David Cameron tuyên bố từ chức để cho người đứng đầu khác lên làm thủ tục tách khỏi EU.
Rất nhiều người ân hận khi đã “đùa với lá phiếu” của mình và không khó hiểu ngay sau công bố kết quả thì có hơn 1 triệu người dân Anh ký yêu cầu đề nghị Trưng cầu dân ý lần 2.
Đây được coi như một cuộc “cách mạng màu” với phương thức “tự diễn biến” xảy ra tại nước Anh, quốc gia hùng mạnh có nền văn minh, dân chủ lâu đời trên thế giới mà không ai có thể ngờ tới.
Còn nước Mỹ? Rõ ràng là bất kỳ một nền dân chủ nào, hoạt động dân chủ nào mà không hợp với Mỹ thì đều bị Mỹ chống phá. Thế giới đã quá rõ hành xử của Mỹ với các quốc gia TBCN hay XHCN đang tiến hành cải cách dân chủ bị Mỹ lật đổ khi không hợp khẩu vị Mỹ.
 Chính thế cho nên, dù là nước Anh thì nước Mỹ cũng không chịu để yên trước một nền dân chủ kiểu Anh không hợp với dân chủ kiểu Mỹ, gây phương hại cho quyền bá chủ thế giới của Mỹ.
Sẽ ra sao nếu EU tan rã? Liệu có kéo theo nguy cơ tan vỡ NATO? Điều này thì Mỹ hiểu hơn ai hết, lo lắng hơn ai hết.
Sẽ ra sao nếu đây chỉ là một cái cớ để cải tổ lại EU? Nghị sỹ Quốc hội Pháp Nicolas Dyuik nói: “Châu Âu có thể không còn chức năng trong cùng một cách như trước đây, chúng ta không thể đứng trên ba chân - Nghị viện châu Âu, Ủy ban châu Âu và Hội đồng châu Âu. Trong quan điểm của tôi, Ủy ban châu Âu phải xóa bỏ vì Ủy ban châu Âu như tổ chức quân đồng minh được Mỹ thiết lập tại Pháp năm 1944 mà Tổng thống Pháp Charles de Gaulle dựa vào đó để chiến đấu”.
Hậu Brexits, ông Chủ tịch UB châu Âu Jeen-Claude Junker tuyên bố ông sẽ không từ chức. Đây là dấu hiệu cho thấy ít nhất Brexit nhắm vào mục tiêu nào.
Vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, Nghị viện và Hội đồng châu Âu chỉ là bù nhìn. Ủy ban châu Âu mới là “người của Mỹ cầm lái EU” như người Pháp đã tố cáo.
Giờ đây, lý do vì sao Mỹ ra lệnh cấm vận, trừng phạt Nga thì EU phải tuân thủ, dù kêu ca, dù “phải ghè đá vào chân” trong khi Mỹ gần như không bị thiệt hại đã được khẳng định rõ.
Nước Anh, người dân Anh không phải là dạng vừa, ít ra họ cũng đẻ ra trước người Mỹ. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 vừa qua, Đức, Pháp là kẻ bại trận, nhưng Vương quốc Anh thì không, nên Mỹ không thể đối xử với Anh như với Đức và Pháp…Brexit là kết quả “không có gì quý hơn độc lập, tự do” của người dân Anh.
Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu, bởi sau đây là những gì người Anh có thể lãnh đòn: Cục Dự trữ Liên bang, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Nhật Bản, và George Soros sẽ quy tụ lại để tấn công vào đồng bảng Anh, dìm nó xuống và khủng bố các nền kinh tế Anh…nhằm mục đích trừng phạt người dân Anh, thuyết phục họ lá phiếu vừa qua là sai lầm, gây áp lực lên chính phủ hủy bỏ kết quả trưng cầu dân ý.
Vậy rồi ý chí của ai là mạnh nhất: của người dân Anh hay của CIA, One Percent (1% người giàu nước Mỹ) và EU? Hãy chờ!
Nước Nga trong cơn chấn động Brexit
Có rất nhiều quan điểm trái chiều về kinh tế, địa chính trị, của giới nghiên cứu khi phân tích tác động ảnh hưởng của Brexit đối với nước Nga. Bởi vì, xuất phát từ tầm nhìn vi mô, tầm vĩ mô, tầm nhìn ngắn hạn và tầm nhìn dài hạn…cho nên đó là điều có thể.
Vậy ở tầm vĩ mô, tầm dài hạn thì tác động của Brexit vào nước Nga sẽ như thế nào, xấu hay tốt?...
EU đang “hội đồng” cấm vận, trừng phạt nước Nga. Vậy khi EU bị yếu đi hoặc bị tan rã thì sự cấm vận nước Nga tự dưng bị bãi bỏ. Đồng thời hệ lụy tiếp theo là NATO tiến về phía Đông, bao vây Nga theo lệnh Mỹ ít nhất là khó thực hiện.
Đây là nguyên tắc và cơ sở chính để đánh giá tác động của Brexit đến nước Nga.
Trước hết xin trích lời của của Thủ tướng nước Anh David Cameron khi chĩa về nước Nga trong tuyên bố từ chức: Việc nước Anh rời khỏi EU, lợi, hại sẽ được nếm trải ngoại trừ Vladimir Putin và người đứng đầu IS Abu Bakr al-Baghdadi. Chúng ta hãy tự hỏi: ai sẽ được hài lòng khi Vương quốc Anh ra khỏi EU? Tôi nghi ngờ rằng Putin hay Abu Bakr al-Baghdadi”.
Và đây là tuyên bố của Ngoại trưởng Anh Philip Hammond: “Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ vui mừng với kết quả của cuộc trưng cầu dân ý khi người dân Anh đã chọn rời khỏi EU, sự kiện có thể làm mềm các biện pháp trừng phạt chống Nga. Tôi nghi ngờ rằng ngày hôm nay, trong buổi sáng ông Vladimir Putin sẽ trải qua ít căng thẳng và cảm thấy tràn đầy năng lượng hơn”.
Còn đây là của cựu đại sự Mỹ tại Nga, ông Michael McFaul: Brexit là “một thắng lợi của chính sách đối ngoại của Putin”.
Những tuyên bố trên đây có vẻ như là cay cú với người Nga, nhưng...nếu vậy thì chẳng lẽ Nga cũng biết chơi món võ "cách mạng màu" như Mỹ và phương Tây? 

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Hai cửa ải quyết định vận mệnh quan hệ hợp tác Việt-Mỹ


Lòng tin giữa Việt Nam và Mỹ có được khi chỉ khi cả 2 bên thực sự “gác lại quá khứ”, “vượt qua khác biệt”.
Nếu như chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ là một bước đột phá vào mối quan hệ bị đóng cứng, tê liệt, thì chuyến thăm tiếp theo của Tổng thống Mỹ Obama đến Việt Nam là khai thông các huyệt đạo bị bế của mối quan hệ hợp tác Việt-Mỹ.
Quan hệ hợp tác Việt-Mỹ đã hết thời kỳ nói suông mà bước vào giai đoạn hành động. Hành động đôi bên như thế nào để chứng tỏ lòng tin trước khi đi vào “thi công” các hạng mục của mối quan hệ hợp tác là một thử thách khó khăn cho cả hai.
Quá khứ, Việt Nam có đủ bản lĩnh, đại nghĩa để gác lại không”? Còn sự “khác biệt, Mỹ, một cường quốc quân sự, kinh tế hàng đầu thế giới có đủ tự tin, kiêu hãnh để vượt qua? Đây là 2 vấn đề riêng biệt dành riêng biệt cho Việt Nam và Mỹ xử lý. 
Việt Nam thực sự “gác lại quá khứ”?
Quá khứ ở đây là cuộc chiến tranh Mỹ-Việt Nam, do đó, quá khứ không chỉ là của người Việt Nam mà còn là của Mỹ. Nhưng, quá khứ đau buồn này nếu như Mỹ chịu một thì Việt Nam chịu một trăm lần, cho nên, “gác lại quá khứ” được hay không, phụ thuộc chủ yếu vào nỗ lực của Việt Nam.
Quá khứ là lịch sử, luôn tồn tại khách quan như là trí nhớ của con người, của nhân loại. Nhớ quá khứ, lịch sử để phát huy những điều tốt đẹp nhưng quan trọng hơn đó là kinh nghiệm quý báu cho tương lai.
Quá khứ đau thương, tội lỗi, không thể quên, nhưng quên, hay không quên lại không quan trọng bằng làm gì, làm như thế nào để quá khứ đó không xảy ra trong tương lai, không ngăn cản sự phát triển cho tương lai. Đó chính là hãy tự tin “gác lại quá khứ”.
Hơn 2 triệu người Việt chết đói năm 1945, chúng ta không bao giờ quên. Chúng ta nhớ nó không phải để căm thù Nhật Bản từ đời này đến đời khác mà nhớ để biết nguyên nhân, hệ quả và thế hệ sau này của Việt Nam, Nhật Bản hãy làm gì để không bao giờ điều đó xảy ra.
Nếu như “Hội chứng chiến tranh (Việt Nam) trong lòng nước Mỹ” là tội lỗi, là mất mát, là thù hận, chưa dễ phai mờ thì hậu quả của cuộc chiến tranh đó để lại trong lòng Việt Nam còn nặng nề gấp hàng trăm lần so với Mỹ.
Do đó, “gác lại quá khứ” là một thử thách rất lớn cho Việt Nam, nó trở thành chỉ dấu, chỉ số, đánh giá lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.
Không phải ngẫu nhiên mà sau tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam thì vấn đề của TNS Bob Kerry lại khiến cho dư luận Việt Nam nổi sóng.
Người Mỹ đưa cho Việt Nam một bài test tinh tế, động đến một vấn đề rất nhạy cảm, để qua đó người Mỹ muốn từ Việt Nam một câu trả lời: Bạn đã thực sự gác lại quá khứ để hướng tới tương lai?
Rõ ràng, không thiếu gì người có thể thay ông Bob Kerry làm chủ tịch HĐQT trường ĐH Fullbright, nhưng nếu phải lựa chọn một ông Bob Kerry có quá khứ tội lỗi, sám hối, muốn làm gì đó cho Việt Nam và một ông Bob Kerry chống đối quyết liệt Việt Nam thì chúng ta chọn ai?
Tất nhiên, lựa chọn theo tình cảm, lý trí cá nhân sẽ khác với sự lựa chọn của những người mang trọng trách đại sự quốc gia.
Lịch sử quan hệ bang giao, vận nước có lúc như thời Lý Thường Kiệt, có lúc như Nguyễn Trãi và có lúc như Quang Trung Nguyễn Huệ…nếu lấy ứng xử bang giao với nước lớn phương Bắc, đặt từng bối cảnh đó vào hiện nay chắc “um xùm”, nhưng Việt Nam đâu có mất thần phong và khí phách.
Việt Nam đã trả lời bài test Mỹ cũng tinh tế không kém khi dành cho Mỹ một sự lựa chọn: “…phía Mỹ và lãnh đạo ĐH Fulbright sẽ có quyết định đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển quan hệ đang rất tốt đẹp giữa Việt Nam và Mỹ”.
Một thông điệp rất “tình tứ” và giờ đây “bóng đã đến chân người Mỹ”.
Mỹ có thực sự “vượt qua khác biệt”?
Thế giới này không chỉ có Việt Nam là quốc gia có sự “khác biệt” với Mỹ, nhưng trong khi mối quan hệ hợp tác của họ với Mỹ phát triển bình thường thì Việt Nam và Mỹ lại gặp trở ngại.
Nguyên nhân chính là Việt Nam và Mỹ đã từng xảy ra một cuộc chiến tranh khốc liệt mà Mỹ không đạt được mục đích đề ra, nói cách khác là Mỹ bị thất bại. Vì thế, với tư cách là một cường quốc đứng đầu thế giới thì Việt Nam là một vấn đề không dễ dàng để quên.
“Sự khác biệt” trong quan hệ Mỹ-Việt, không phải chỉ là khác cái này, cái kia…mà nó là vấn đề đụng chạm đến uy danh nước Mỹ, là điều khó chấp nhận của “nước lớn”, nói cách khác “sự khác biệt” tồn tại trên một nền tảng thù hận của nước Mỹ với Việt Nam.
Đó là lý do vì sao kể từ năm 1975 đến nay, Mỹ không từ một thủ đoạn nào để chống phá Việt Nam mà chúng ta đã thấy và chứng kiến.
Trái lại, với tư tưởng hòa hiếu trong bang giao của Việt Nam, thì “sự khác biệt” trong mối quan hệ hợp tác Việt Nam-Mỹ, Việt Nam rất dễ dàng vượt qua bởi lẽ đơn giản Việt Nam là nước nhỏ, muốn là bạn với Mỹ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi.
 Như vậy, “vượt qua khác biệt” là vấn đề chủ yếu dành cho Mỹ xử lý. Việt Nam không có ý tưởng và không có khả năng chống phá, bao vây, cấm vận, hay tiến hành cái gọi là “cách mạng màu” với nước Mỹ hoặc áp đặt dân chủ, nhân quyền kiểu Việt Nam vào Mỹ.
Và, cũng như “gác lại quá khứ” với Việt Nam, “vượt qua khác biệt” là một thử thách không dễ dàng với Mỹ.
Lòng tin giữa Việt Nam và Mỹ quyết định thành bại mối quan hệ hợp tác đôi bên. Lòng tin đó có được khi chỉ khi cả 2 bên thực sự “gác lại quá khứ”, “vượt qua khác biệt”.
Nếu như Việt Nam đã, đang thực sự “gác lại quá khứ” không chỉ bằng lời nói mà bằng hành động thì Mỹ đã hành động gì để chứng tỏ đã “vượt qua khác biệt”?

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ cũng những người có lương tri trên thế giới mong muốn Mỹ và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, phát triển, đang chờ đợi.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

ADIZ trên Biển Đông-hiểm họa khó lường


Việt Nam mới là quốc gia cần có  ADIZ nhất trên Biển Đông, vì đe dọa an ninh từ hướng Biển Đông với Việt Nam là rất lớn và nguy hiểm.
Dư luận đang rất chú ý đến một tin nhắn mới đây của Trung Quốc từ South China Morning Post (SCMP) ngày 1-6 dẫn các nguồn tin thân cận với Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) Trung Quốc cho biết Bắc Kinh đang chuẩn bị thiết lập một vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Đông.
Theo đó, thời gian lập ADIZ phụ thuộc vào điều kiện an ninh trong khu vực, đặc biệt là sự hiện diện quân sự của Mỹ và quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng.
Trong phản hồi bằng văn bản về thông tin đăng trên SCMP, Bộ Quốc phòng Trung Quốc lớn tiếng nói rằng họ có quyền lập ADIZ ở Biển Đông và là “quyền của một nước có chủ quyền” . Họ còn “úp mở” rằng “Việc khi nào sẽ tuyên bố một vùng nhận diện như vậy còn phụ thuộc vào chuyện liệu Trung Quốc có đối mặt với các mối đe dọa trên không hay không và mức độ của mối đe dọa đó ra sao”.
Tin nhắn được gửi đi trước đối thoại Shangri-La 2 ngày, khi Diễn đàn an ninh khu vực này được coi như một cuộc đấu tố Trung Quốc khi có hành động hung hăng quân sự hóa Biển Đông chỉ là nhằm đe dọa các nước trong khu vực tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông.
Khả năng và thực tế ADIZ trên Biển Đông của Trung Quốc
ADIZ là sản phẩm của chiến tranh lạnh, nhằm giảm thiểu rủi ro khi bị tấn công bất ngờ từ hướng phòng thủ nào đó trên không. ADIZ không đồng nghĩa với “không phận” nhưng liên quan mật thiết đến an ninh quốc phòng.
Do đó để lập một ADIZ đòi hỏi quốc gia đó phải chuẩn bị mọi cơ sở vật chất, kỹ thuật, các lực lượng hỗ trợ để thực thi và đặc biệt là phát hiện kịp thời “không để một con ruồi bay lọt”.
Trên thế giới có gần 20 ADIZ được lập ra và tùy theo từng quốc gia mà ADIZ được quy định. Chẳng hạn như ADIZ Nhật Bản lập năm 1969 thì không có yêu sách nào với máy bay qua đây ngoại trừ hạ cánh.
Với Trung Quốc thì ADIZ đầu tiên trên Hoa Đông, họ yêu cầu các máy bay qua đây phải trình kế hoạch bay và giữ liên lạc qua radio với nhà chức trách. Nếu không theo quy định, có hướng, hành động ảnh hưởng đến an ninh của quốc gia thì lập tức sẽ dùng biện pháp phòng không khẩn cấp.
Tại ADIZ của Trung Quốc trên vùng biển Hoa Đông, ngay sau khi Trung Quốc tuyên bố, Mỹ không công nhận, lập tức Mỹ đưa 2 B-52 “xâm phạm” nhưng Trung Quốc không phản ứng gì. Chứng tỏ năng lực chấp pháp đối phó với các “đối tượng tác chiến trực tiếp” sừng sỏ, hùng mạnh còn hạn chế.
Giới quân sự đánh giá ADIZ của Trung Quốc trên Hoa Đông là quá yếu về “phần cứng” hỗ trợ thực thi và thiếu “tính chuyên nghiệp” về mặt kỹ thuật khi các quy định quá sơ sài.
Vậy trên Biển Đông nếu như Trung Quốc tuyên bố ADIZ?
Trung Quốc đã xây dựng các trạm Radar giám sát ở Trường Sa và Hoàng Sa, các đường băng cho máy bay và thậm chí kéo cả H-9 (tên lửa PK hiện đại nhất của Trung Quốc) ra Hoàng Sa.
Xét về lý thuyết thì Trung Quốc có đủ cơ sở vất chất kỹ thuật cơ bản để tuyên bố ADIZ trên Biển Đông. Nhưng đáng tiếc, Trung Quốc vẫn chưa đủ lực để thực thi.
Lập ra ADIZ để bảo vệ an ninh quốc gia, nhưng trong khi đó ADIZ mà Trung Quốc nếu tuyên bố trên Biển Đông lại là nguy cơ gây bất ổn khu vực, đặt an ninh Trung Quốc phải căng thẳng trong việc đối đầu với các thế lực khác đứng đầu là Mỹ thì đó là điều phi lý.
Mỹ đã từng tuyên bố là Mỹ sẽ không công nhận ADIZ của Trung Quốc trên Biển Đông. Mỹ đã, đang và sẽ tuần tra để bảo đảm an toàn tự do hàng hải, hàng không, trên Biển Đông cách các đảo của Trung Quốc chiếm được 12 hải lý.
Điều đó cho thấy, nếu ADIZ của Trung Quốc trong phạm vi đó thì Mỹ sẽ không “xâm phạm”, nhưng ngoài phạm vi đó ra thì lẽ dĩ nhiên, mọi hoạt động tuần tra của Mỹ đều nằm trong khu vực chấp pháp của Trung Quốc.
Đến đây, Mỹ phải tuân thủ hay không là quyền của Mỹ, là uy danh sức mạnh Mỹ. Nếu chấp nhận thì Mỹ bị Trung Quốc đẩy ra khỏi Biển Đông, còn nếu không chấp nhận thì căng thẳng Trung Quốc-Mỹ sẽ leo thang.
Chắc chắn là Mỹ không thể chấp nhận và chắc chắn Trung Quốc chưa có gan để thách thức Mỹ.
Do đó, Trung Quốc sẽ không lập ADIZ trên Biển Đông? Chưa hẳn thế, vì Trung Quốc có thể bắt tay Mỹ, bỏ qua Mỹ, thực hiện “mềm nắn, rắn buông”, tuyên bố ADIZ để tranh chấp chủ quyền, đe dọa các quốc gia có tranh chấp.
Việt Nam sẽ làm gì nếu Trung Quốc tuyên bố ADIZ trên Biển Đông?
Điều khẳng định chắc chắn là nếu như Trung Quốc lập khu nhận dạng phòng không trên Biển Đông thì sẽ có nhiều vùng chồng lấn rộng lớn lên chủ quyền, quyền chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.
Nếu Việt Nam chấp nhận ADIZ đó thì có nghĩa là Việt Nam chấp nhận mất chủ quyền và nếu như không chấp nhận, thì căng thẳng, đối đầu trực tiếp sẽ xảy ra.
Trung Quốc đã thử thách và xem phản ứng của Việt Nam trong vụ đưa giàn khoan hạ đặt sâu trong thềm lục địa Việt Nam thì vấn đề tuyên bố ADIZ trên Biển Đông còn nhạy cảm, nguy hiểm, đến an ninh chủ quyền của Việt Nam gấp nhiều lần.
Để an toàn cho hàng trăm hành khách, các quốc gia không có tranh chấp chủ quyền có thể trình báo kế hoạch, hướng bay…nhưng với các quốc gia có tranh chấp chủ quyền thì họ sẽ lựa chọn sao giữa chủ quyền và hàng trăm tính mạng dân mình?
ADIZ của Trung Quốc trên Biển Đông nếu có, là phục vụ cho mục đích tranh chấp chủ quyền, bởi vì không quốc gia nào trong khu vực Biển Đông có thể tấn công Trung Quốc bằng đường không. Và, có thể nói, đó là kiểu “bắt cóc con tin” đầy thâm hiểm và độc ác nhất.
Vì thế, “úp mở” việc tuyên bố lập ADIZ trên Biển Đông là sự răn đe, đe dọa nguy hiểm đến an ninh chủ quyền Việt Nam sau sự kiện Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam và mối quan hệ hợp tác với Mỹ ngày càng thân thiện.
Vì vậy, nếu Trung Quốc tuyên bố ADIZ thì ngay lập tức Việt Nam cũng tuyên bố ADIZ của mình và mở rộng để phục vụ cho yêu cầu chiến thuật phòng thủ khẩn cấp từ hướng biển.
Đây là lý do xác đáng không bàn cãi vì Việt Nam mới là quốc gia cần có  ADIZ nhất vì đe dọa an ninh từ hướng Biển Đông với Việt Nam là rất lớn và nguy hiểm.
Phòng thủ từ hướng biển trong đó phòng thủ từ trên không là nhiệm vụ mà quân đội Việt Nam đã triển khai từ lâu và không ngừng củng cố, hoàn thiện. Vì thế, “khả năng chấp pháp” không là vấn đề quá lớn, quá xa lạ, trong tình huống phải đối đầu với một lực lượng không quân hiện đại.

Đó là cách tốt nhất hóa giải, đáp trả chiêu “tuyên bố ADIZ” của Trung Quốc trên Biển Đông để tranh chấp chủ quyền.

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

Việt Nam không phải là Philipines!


Một trong những công cụ truyền thông hung hăng nhất cố súy cho tư tưởng Đại Hán, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, và nổi tiếng với những trò vu cáo, “gắp lửa bỏ tay người”, đó chính là tờ Thời báo Hoàn cầu, ấn phẩm phụ của tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng CS Trung Quốc.
Với tinh thần đó thì Việt Nam, đương nhiên là đối tượng truyền thông của họ và người Việt Nam cũng đã quen tai với những lời lẽ láo xược, hung hăng, đe dọa lâu nay của Thời báo Hoàn cầu (TBHC).
Sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Obama thì khẩu khí của TBHC cũng vậy thôi, nhưng có một bài xã luận nhan đề: "Obama không có cách nào biến Việt Nam thành Philippines" của TBHC khiến dư luận ngạc nhiên vì cái nhan đề ấy là đúng và chính xác.
Tất nhiên, nội dung của bài xã luận đó được nhìn qua một “lăng kính mang bản sắc của TBHC” đã bị báo chí trong nước Việt Nam đả phá. Ở đây, chúng ta cũng bàn đến nội dung của nhan đề đó nhưng từ góc nhìn thẳng: "Tại sao Việt Nam không phải là Philipines?" hay, "vì sao Obama không có cách nào biến Việt Nam thành Philipines?" mà thôi.
Sai lầm không thể khắc phục của Philipines
Trên Biển Đông, Trung Quốc hành động rất hung hăng, quyết đoán với lời lẽ rất hiếu chiến khiến cho các nước nhỏ trong khu vực lo sợ. Philipines cũng không loại trừ, khi đã nhiều lần bị Trung Quốc chèn ép, nhưng họ chơi với Trung Quốc kiểu “bám theo nước lớn để hưởng lợi”:
Năm 2004, biết rằng Trường Sa đang là khu vực tranh chấp quyết liệt. Việt Nam đã từng phải đổ máu để bảo vệ chủ quyền. Thế nhưng Philipines vẫn ngang nhiên ký tay đôi với Trung Quốc để cùng khảo sát địa chấn tại quần đảo Trường Sa-Việt Nam. Họ coi như Trường Sa chỉ là của Trung Quốc và Philipines, bất chấp Trường Sa là của Việt Nam.
Hành động này của Philipines chứng tỏ họ “đi đêm”, bắt tay với thế lực có ý đồ bành trướng lớn nhất, tham vọng lớn nhất mà không cần đếm xỉa gì đến quyền lợi nước khác.
Năm 2009 Philipines từ chối tham gia một bản báo cáo chung với Việt NamMalaysia trong việc xác lập thềm lục địa và vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ). Theo đó, Việt NamMalaysia không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải như UNCLOS quy định.
Hầu như mọi nước ASEAN ven Biển Đông đều thống nhất với quan điểm này, nó tạo thành lập trường chung của ASEAN nhưng, Philipines đi ngược lại, họ cùng chung lập trường với Trung Quốc.
Philipines đã đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc, bức thư phản đối quan điểm chung của Việt NamMalaysia.
Sự phản đối của Philipines đã dẫn đến các hậu quả vô cùng tai hại, mà trước hết bị ngay với chính mình.
Một là, Philipines đã vô tình tiếp tay, công nhận bản đồ “chín khúc” mà Trung Quốc vẽ ra chiếm hơn 80% Biển Đông. Vì Trung Quốc coi Hoàng Sa và Trường Sa là “chủ quyền không thể chối cãi” của họ. Và nếu thế, cho nên vùng EEZ rộng 200 hải lý sẽ trùm hết 80% Biển Đông.
Hai là, do vậy, cơ sở nào, khi chỉ dựa trên quan hệ song phương, để Philipines nói rằng bãi cạn Scarborough là của riêng mình khi nó cũng thuộc vùng EEZ của Trường Sa (còn gần hơn cả Philipines nữa)?
Và đương nhiên, Trung Quốc dại gì mà không tuyên bố là của họ khi Philipines chỉ là “con muỗi”, khi mà lực lượng “răn đe” của Philipines quá yếu và quá thiếu, chủ yếu dựa vào Mỹ, trong khi Mỹ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền?
Có thể nói, chỉ có Trung Quốc mới có quyền và khả năng lợi dụng Philipines chứ làm sao Philipines lợi dụng được nước lớn luôn có tư tưởng bàng trướng như Trung Quốc. Philipines đã phải trả giá: Mất Scarborough.
Đây là một sai lầm mà giờ đây Philipines có kiện cáo gì, tòa có phán quyết ra sao tới đây thì Trung Quốc vẫn y án: Scarborough là của họ.
Việt Nam không phải là Philipines
Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến sự khác nhau trong mối quan hệ hợp tác với Mỹ mà không phân tích sự khác biệt trong những vấn đề khác.
Trước tiên, Philipines là đồng minh quân sự với Mỹ. Có nghĩa là khi Philipines bị tấn công thì Mỹ sẽ can thiệp. Vì thế Philipines đã cho Mỹ triển khai các căn cứ quân sự trên lãnh thổ để đối phó với Trung Quốc, nhưng họ quên một điều: Mỹ không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền.
Do dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền nên khả năng tự lập của Philipines rất yếu, biểu hiện là lực lượng hải quân, không quân không được đầu tư đúng mức, họ không có khả năng để buộc Trung Quốc phải trả giá.
Tổng thống mới đắc cử Rodrigo Duterte đã cay đắng: “Mỹ sẽ không bao giờ chết vì chúng tôi. Nếu Mỹ quan tâm, họ lẽ ra đã gửi các tàu sân bay và tàu khu trục tên lửa vào thời điểm Trung Quốc bắt đầu tuyên bố chủ quyền ở vùng lãnh thổ tranh chấp, song điều như vậy đã không xảy ra”.
Và, ông ta lại “hờn dỗi”: “Mỹ sợ tiến hành chiến tranh. Chúng ta tốt hơn hết nên kết bạn với Trung Quốc”.
Động thái của vị tân Tổng thống Philipines đã khiến cho giới quan sát cho rằng đây là một “ẩn số địa chính trị khu vực”, nghĩa là Philipines sắp tới chưa biết sẽ thực hiện chính sách đối ngoại thế nào. Ông ta sẽ làm gì với các căn cứ Mỹ để kết bạn với Trung Quốc?...
Với Việt Nam, thay vì dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền như Philipines thì Việt Nam quan hệ tốt với Mỹ kể cả hợp tác quân sự, để nâng cao khả năng bảo vệ chủ quyền.
Việt Nam bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình bằng sức lực, trí tuệ và máu của chính mình, chứ không hoang tưởng bằng máu của người khác. Vì thế, quan hệ hợp tác Việt Nam-Mỹ dựa trên cơ sở nền tảng bình đẳng, đôi bên cùng có lợi.

Với tinh thần đó, cơ sở nền tảng đó, thì Việt Nam đâu phải là Philipines và ông Obama làm sao có thể biến Việt Nam, một quốc gia luôn có nền đối ngoại độc lập, tự chủ, thành Philipines.
 Một nền đối ngoại độc lập, tự chủ, chỉ có thể là đường lối của một quốc gia độc lập, tự do.

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Việt Nam tự tin bước vào cuộc chơi!


Nhiều người lý luận rằng, người Việt Nam rất vui mừng, thân thiện khi Tổng thống Mỹ đến thăm vì Mỹ là một cường quốc đứng đầu thế giới mà điều đó khó dành cho Tổng thống một quốc gia nào đó khác Mỹ đến thăm.
Không sai. Nhưng xin được hỏi, liệu vị HLV bóng đá Mourinho có sang thăm và làm việc với đội tuyển bóng đá Việt Nam không?
Một nước Việt Nam “không có tên trên bản đồ thế giới” liệu Tổng thống Mỹ đến thăm và hợp tác?
Rung chấn sau việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam
Như đã nói, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam, ý nghĩa quân sự không lớn, nhưng ý nghĩa chính trị và thương mại lại rất lớn với không chỉ Việt Nam mà trong khu vực.
Về ý nghĩa chính trị. Thứ nhất là khẳng định vị thế của Việt Nam.
Đừng tưởng Mỹ bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam, một lệnh cấm đã tồn tại hơn 4 thập kỷ là dễ dàng, là đã quên hết sự thù địch và thậm chí có kẻ mà đầu óc mang nặng tư tưởng “nhược tiểu” lại cho rằng đó là “phần thưởng” của Mỹ ban cho Việt Nam.
Cấm vận vũ khí là biểu trưng của sự thù địch, vậy khi dở bỏ cấm vận thì Mỹ đã quên, xóa hết sự thù địch với Việt Nam chưa?
Hãy hỏi, hãy nghe, hãy xem RFA, BBC, Việt Tân cùng hàng chục tổ chức phản động lưu vong đang ăn tiền CIA…hô hào, cổ vũ và hoạt động để lật đổ nhà nước Việt Nam XHCN thì rõ Mỹ đã quên hay chưa thôi.
Nên nhớ rằng, trong khi “hội chứng chiến tranh Việt Nam” chưa dễ gì quên; những áp lực chống cộng điên cuồng; những “khác biệt” lớn chưa thể vượt qua ngay…tác động rất mạnh vào chính quyền Mỹ thì đó là một quyết định đầy bản lĩnh, một sự lựa chọn đầy khó khăn của người Mỹ.
Và, chẳng lẽ một quyết định ra đời trong hoàn cảnh như vậy lại chỉ vì một nước Cộng sản? Cho một nước Cộng sản? Không bao giờ, bởi lẽ Mỹ vốn thực dụng, không quen làm chuyện đó ngay cả với đồng minh.
Ukraine được coi như là sản phẩm “Cách  mạng màu” của Mỹ, kêu gào Mỹ bán vũ khí sát thương nhưng Mỹ vẫn từ chối, thì việc Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam là một cú chấn động địa mạnh nhiều người phải quan tâm.
Tại Việt Nam cũng có nhiều người sốc vì kỳ vọng quá lớn vào vũ khí Mỹ, họ mường tượng tương lai sẽ thay đổi toàn bộ vũ khí Nga “cũ kỹ, lạc hậu”, bằng vũ khí Mỹ…Một số tờ báo mạng phán như là cơ quan ngôn luận của Bộ tổng TM rằng, sẽ mua loại này, loại kia trong thời gian tới…
Rõ ràng để có được tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận thì phải có sự cố gắng của 2 phía, nhưng, phải khẳng định yếu tố mang tính quyết định là Việt Nam trong chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ có vị trí rất quan trọng về địa chiến lược, vai trò trong ASEAN, sức mạnh quân sự và khả năng đối phó với Trung Quốc…mà không có những điều đó thì bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam sẽ chưa xảy ra.
Thứ hai là ASEAN buộc phải lựa chọn.
Đúng như ngài thủ tướng Singapor đã lo ngại cách đây vài năm rằng “Trung Quốc, Mỹ đừng buộc ASEAN phải lựa chọn” thì tình thế “buộc phải lựa chọn” đã xảy ra.
Sau tuyên bổ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam thì Trung Quốc cũng tuyên bố tăng cường hợp tác quốc phòng với Malaysia, Thaland, Myanmar.
Hợp tác của Trung Quốc với họ như thế nào, nội dung ra sao thì chưa rõ, nhưng chắc chắn Malaysia, Thailand và Myanmar không dám chống Mỹ, nhưng sự lôi kéo của Trung Quốc cũng đã làm cho nội bộ khối ASEAN phải vào cuộc đấu tranh sinh tồn mạnh mẽ trong vòng xoáy xung đột địa chính trị Trung-Mỹ.
ASEAN phải thống nhất, đoàn kết để tạo nên sức mạnh, tuy nhiên, đây là điều quá khó, ASEAN chắc sẽ phải buộc lựa chọn, phân hóa, nếu như xung đột lợi ích Trung Quốc-Mỹ ngày càng leo thang không thể dung hòa.
Như vậy, bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam của Mỹ không chỉ là mối quan hệ song phương mà có tác động địa chính trị rất lớn.
Bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam thách thức nước Nga
Nói là thách thức nước Nga là vì nó tạo ra một môi trường cạnh tranh với Nga trong vấn đề mua sắm vũ khí của Việt Nam.
Phải khẳng định chắc chắn rằng, Liên Xô và ngày nay là Nga đã đang đồng cam cộng khổ chia xẻ với Việt Nam trong những tháng ngày gian lao vất vả Bảo vệ Tổ quốc. Vũ khí Nga đã đang là xương sống của  sức mạnh quân đội Việt Nam trong phòng thủ bảo vệ chủ quyền Biển Đông.
Chỉ có những kẻ thiếu trái tim và không có lý trí mới phủ nhận, coi nhẹ sự giúp đỡ của Nga, vũ khí Nga trong việc tạo ra sức mạnh răn đe, ngăn ngừa xung đột quân sự trên Biển Đông.
Mỹ đã làm gì cho Việt Nam để bảo vệ chủ quyền biển đảo từ trước đến nay hay chỉ để lại một dấu ấn không quên trong lòng người Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa?
Đừng nhầm tưởng Mỹ can thiệp ở Biển Đông là vì lợi ích của Việt Nam mà đó trước hết là vì lợi ích Mỹ. Và may mắn là lợi ích Mỹ và Việt Nam trên Biển Đông lại tương đồng nên cả hai đều có nhu cầu hợp tác phát triển.
Rõ ràng là ai cũng biết Nga đang độc quyền mua bán vũ khí tại Việt Nam bởi hơn 80% vũ khí của Việt Nam là của Nga. Nga bán vũ khí cho Việt Nam vô điều kiện, nhưng Nga không giàu có để cho không mà phải hoạt động theo nguyên tắc thương mại
Việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sẽ tác động đến Nga 3 vấn đề và cũng chính là 3 vấn đề Việt Nam được lợi:
Một là, Việt Nam có quyền mặc cả giá trong hợp đồng mua bán giữa Nga và Việt Nam. Giờ đây Việt Nam có quyền nói: “đắt quá, tôi mua người khác vậy”, điều đó sẽ làm mềm đi giá cả đôi bên thỏa thuận.
Hai là chất lượng vũ khí, Nga phải cạnh tranh với Mỹ bằng chất lượng, tính năng kỹ, chiến thuật của vũ khí, thay vì như trước đây có sao Việt Nam chịu vậy.
Ba là thời gian thực hiện hợp đồng giao hàng. Có rất nhiều yếu tố khiến người mua nhận hàng rất chậm, trong khi đó vũ khí là mặt hàng rất nhạy cảm bởi nó nằm trong tính toán chiến lược của bên mua. Sự hiện diện của vũ khí trước, trong thời điểm căng thẳng luôn là có tính răn đe, nâng cao khả năng SSCĐ của bên mua.
Đây là 3 vấn đề mà Nga sơ sẩy là bị mất uy tín và có thể mất dần lợi thế vũ khí mà Nga đã tạo dựng với Việt Nam trong thời gian qua.
Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ đến Việt Nam vừa qua có một kết quả rất tốt đẹp. Đây là thành công của chiến lược đối ngoại Việt Nam khi đã tạo ra thế và lực mới cho đất nước mà dù khó tính, hồ nghi bao nhiêu cũng không thể phủ nhận.

Nhân dân Việt Nam rất mong muốn quan hệ Việt Nam-Mỹ ngày càng phát triển trên có sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị của nhau, xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, ổn định và phát triển.

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

Tại sao Trung Quốc “hoan nghênh” Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam?



Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Obama sẽ không có gì đặc biệt, bởi đây là lần thứ 3 các đời Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam, nếu như không có tuyên bố Mỹ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam tồn tại hơn 4 thập kỷ qua.
Chuyến thăm nhằm xây dựng phát triển mối quan hệ hợp tác song phương Việt-Mỹ, nhưng đặc biệt thay, mối quan hệ đó lại có tác động mạnh đến cục diện dịa chính trị khu vực.
Hợp tác Việt-Mỹ trong thông điệp “bỏ cấm vận vũ khí”
Rõ ràng, đây là một cú đánh hiểm của Mỹ trong cuộc chiến địa chính trị với Trung Quốc trên khu vực Châu Á-Thái Bình dương.
Giới quan sát và giới quân sự thừa hiểu, khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam thì Việt Nam không phải hùng mạnh ngay để bảo vệ lợi ích của mình khi bị xâm hại, mà trước mắt, chủ yếu chỉ là biểu tượng, nhưng là biểu tượng phản ảnh thực tế của một bản chất: Việt Nam và Mỹ đã không còn là kẻ thù, ít nhất về mặt ngoại giao.
Bắt đầu từ đây, Việt Nam có thể giao lưu, mua bán vũ khí không chỉ trực tiếp với Mỹ mà với đồng minh của Mỹ như Ixrael và phương Tây trong khối NATO…những thứ mình cần, tùy theo túi tiền, tùy theo yêu cầu chiến thuật của mình mà vũ khí Mỹ chưa chắc đã phù hợp.
Tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí của Mỹ với Việt Nam sau một thời gian dài thù địch đã khiến ASEAN có cơ hội và lý do để lựa chọn, vị thế Việt Nam được nâng một bậc, nhưng Mỹ cũng được lợi khi tạo ra được một lòng tin và thế lực đáng kể trong hợp tác với ASEAN.
Hơn ai hết, Trung Quốc thừa hiểu nguyên nhân khiến cho hợp tác Việt-Mỹ tiến triển nhanh chóng, vượt qua nhiều sự “khác biệt” đến không ngờ.
Trung Quốc đã đánh giá thấp tầm nhìn chiến lược, tư duy chính trị của Việt Nam trong tình hình thế giới mới. Trung Quốc đã chủ quan khi cho rằng sự “khác biệt” là rào cản mà Việt Nam, Mỹ khó vượt qua dù cho Việt Nam bị áp lực, bị chèn ép bao nhiêu đi nữa trên Biển Đông.
Nên nhớ rằng, điều kiện để Trung Quốc bắt tay Mỹ năm 1972 không sâu đậm, nhưng Trung-Mỹ vẫn vượt qua được sự “khác biệt” khắc nghiệt, gay gắt vào thời đó, thì ngày nay, động lực để Việt-Mỹ bắt tay hợp tác, vượt qua sự “khác biệt” có điều kiện thuận lợi gấp trăm lần.
Điều người ta chú ý, quan tâm là không phải sau khi bỏ cấm vận vũ khí thì vũ khí Mỹ sẽ ồ ạt vào Việt Nam như thế nào, bởi đó là hoang tưởng mà quan trọng hơn là hợp tác quân sự Việt Nam-Mỹ ra sao để tạo thế và lực của đôi bên trên Biển Đông mới là cốt tử.
Tại sao Trung Quốc “hoan nghênh”?
Về logic, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam là một tín hiệu không tốt lành cho Trung Quốc. Và, tất nhiên, cũng như việc Nga cung cấp trang bị vũ khí hiện đại cho Việt Nam trong phòng thủ biển, đều là tín hiệu không tốt lành cho Trung Quốc.
Bởi đơn giản là vì trong khi Trung Quốc và Việt Nam đang căng thẳng, có nguy cơ xung đột quân sự vì tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông thì bất kỳ vũ khí của ai trong tay quân đội Việt Nam cũng đều khiến Hải quân Trung Quốc (PLAN) phải dè chừng.
Trung Quốc im lặng dù cảm thấy rất bất an khi vũ khí Nga, những loại vũ khí có uy lực lớn, hiện đại, lợi hại dồn dập đến tay Việt Nam là dễ dàng giải thích, bởi chính Trung Quốc cũng mua vũ khí Nga, bởi Nga-Việt có mối quan hệ truyền thống…
Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam, Trung Quốc buộc phải chấp nhận thực tế này trên khu vực khi Mỹ và Trung Quốc đang có mâu thuẫn đối kháng về mục tiêu chiến lược là điều không dễ chịu chút nào, nhưng nếu phản đối công khai thì chứng tỏ Trung Quốc đang lo sợ.
Hiện nay, hơn ai hết Trung Quốc cũng rất mong Mỹ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho mình sau vụ Thiên An Môn. Nếu điều này xảy ra, Trung Quốc cũng không mơ mua được vũ khí CNC hiện đại của Mỹ, nhưng cái Trung Quốc cần là mua được vũ khí từ phương Tây.
Ngay Việt Nam, trong thời gian Mỹ dở bỏ lệnh cấm vận vũ khí một phần thì nhiều hợp đồng vũ khí với Ixrael cũng bị loại bỏ bởi không được sự đồng ý của Mỹ. Do đó, Trung Quốc cũng không tránh khỏi tình trạng này như Việt Nam đã từng.
Trong khi đó, Nga là đối tác chính trong buôn bán vũ khí với Trung Quốc thì Trung Quốc luôn bị Nga bắt bí. Không ít lần giới quân sự Trung Quốc tỏ ra bất bình khi vũ khí Nga bán cho Việt Nam luôn khác với bán cho Trung Quốc cùng loại.
Và, khi nếu có xung đột trên Biển Đông với Việt Nam xảy ra thì liệu với vũ khí Nga có trong tay, Trung Quốc có vấp phải tình trạng như Argentina hay không…cũng là một vấn đề không thể không nghĩ đến của giới quân sự Trung Quốc.
Chính vì vậy, đa dạng hóa vũ khí, tiếp thu, phát triển vũ khí CNC từ nhiều nguồn, tránh phụ thuộc vào Nga là nhu cầu mang tầm chiến lược của Trung Quốc, cho nên, nếu phản đối việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam là tự ghè đá vào chân.
Tuy nhiên Trung Quốc dù “vui mừng” với quan hệ hợp tác Việt Nam-Mỹ hoàn toàn bình thường khi Mỹ bỏ cấm vận vũ khí, song vẫn không quên cảnh cáo Việt Nam và Mỹ rằng, mối quan hệ hợp tác đó “không được chống Trung Quốc, gây bất ổn khu vực”.

Tất nhiên rồi, Việt Nam chẳng quá háo hức đặt trọn niềm tin vào “đối tác toàn diện” mà quên Trung Quốc là láng giềng hữu nghị, là “đối tác chiến lược toàn diện”. Việt Nam rất mong muồn hòa bình hữu nghị với Trung Quốc trên có sở tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau.