Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Cơn ác mộng của Mỹ-NATO-EU sau đêm 15/7.


Chính Mỹ-NATO-EU đã đẩy Thổ Nhĩ Kỳ vào tay Moscow, và chỉ sau một đêm 15/7, cục diện địa chính trị khu vực thay đổi tất cả mọi thứ.

Nếu như cuộc đảo chính quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ vừa qua “giết chết được Tổng thống Erdogan” thì bản đồ Trung Đông được vẽ lại và nguy cơ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 3 sẽ bùng nổ khi sự hỗn loạn tại Trung Đông nhốt chặt "gấu Nga" tại Biển Đen bởi eo biển Bosporus bị khống chế.
Tuy nhiên, cuộc đảo chính quân sự đã bị thất bại, hàng chục ngàn người bị thanh trừng tại Thổ Nhĩ Kỳ và chính kết quả đó đã tạo ra một cú địa chấn cực lớn trên 3 mặt: chính trị, quân sự và kinh tế mang tầm quốc tế.
Báo chí truyền thông Mỹ và phương Tây có vẻ như lờ đi sự kiện khủng khiếp này, nhưng khi NATO-EU đang hoảng loạn, trước một thành viên có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng đang “trở cờ” thì tê liệt phản ứng, “ngậm hột thị” là không có gì ngạc nhiên.
Thổ Nhĩ Kỳ đang rời dần NATO
Nếu như sự sụp đổ của Liên Xô dẫn đến tan rã Hiệp ước quân sự Warsaw thì cuộc đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ đã làm cho NATO khủng hoảng về tinh thần và lực lượng đãn đến nguy cơ không kém.
Các thành viên NATO, đặc biệt là những quốc gia vừa rời bỏ khối Warsaw gia nhập khối NATO đã hiểu rõ ràng vị thế của mình, thân phận của mình trong NATO dưới sự chỉ huy của Mỹ từ tấm gương Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau cuộc đảo chính, về thực chất thì Thổ Nhĩ Kỳ không còn mang trên mình trách nhiệm của một thành viên NATO. Về góc nhìn quân sự thì Thổ Nhĩ Kỳ mất khả năng chiến đấu, NATO đã bị mất đi một vị trí có địa chiến lược rất quan trọng ở phía Nam. Trục Mỹ-NATO-EU có vẽ như sắp bị gãy.
Đây là lý do chính khiến NATO hoản loạn thật sự và đang lo sợ liệu có sự sụp đổ như quân cờ domino hay không.
Với tình trạng Thổ Nhĩ Kỳ như hiện nay thì tốt nhất là NATO phải khai trừ ra khỏi khối càng sớm càng tốt trong khi nó chưa “lây nhiễm”. Hơn ai hết, ban lãnh đạo NATO quá hiểu điều này vì chính NATO đã tham gia đảo chính lật đổ Erdogan, trừ phi Erdogan đã bị như Cadafi.
Thực tế là, để duy trì quyền bá chủ toàn cầu của mình vào thế kỷ mới, Mỹ phải kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng và hành lang đường ống từ Qatar đến châu Âu; bao vây cô lập, làm tan rã Nga; xoay trục sang châu Á-TBD kiểm soát tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và sử dụng sức mạnh quân sự, kinh tế của mình để duy trì sự “hỗn loạn có điều khiển” tại những khu vực có địa chính trị, kinh tế quan trọng trên thế giới.
Nhưng, tại Trung Đông, Mỹ đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi coi thường những lợi ích an ninh quốc gia của các nước đồng minh, đã đẩy tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ vào tay Moscow, và chỉ sau một đêm, cục diện địa chính trị khu vực thay đổi tất cả mọi thứ.
Đảo chính thất bại làm rối loạn bàn cờ thế giới
Thứ nhất là bình thường hóa quan hệ Nga-Thổ Nhĩ Kỳ.
Mỹ-NATO đang có lợi thế khi tạo ra và đẩy mâu thuẫn Nga-Thổ Nhĩ Kỳ trở thành đối kháng. Tuy nhiên, khi 2 kẻ thù này làm lành với nhau, hợp tác với nhau sẽ báo trước một sự thay đổi địa chính trị lớn hơn nhiều, đó là, liên kết giữa Ankara-Tehran-Damascus và các đối tác khác của Nga trên khắp Âu Á.
Liên minh này tất yếu sẽ làm thay đổi bàn cờ địa chính trị toàn cầu, làm phá sản hoàn toàn chiến lược kiểm soát dòng chảy của năng lượng từ Qatar đến châu Âu của Mỹ-PT mà trong đó Thổ Nhĩ Kỳ là một mắt xích trọng yếu kết nối EU với Trung Đông, với châu Á đang dần trượt ra khỏi quỹ đạo địa chính trị của trục Mỹ-NATO-EU.
Nếu như liên minh này do Nga đứng đầu thì có thể sẽ mở ra một thời kỳ ổn định mới cho Trung Đông chống lại chiến lược “hỗn loạn có điều khiển” của Mỹ đang thực thi.
Ngày 09/8, Tổng thống Erdogan và Tổng thống Nga Putin đã có cuộc gặp lịch sử tại Saint Petersburg. Và sẽ có 2 vấn đề lớn được giải quyết:
1, Triển khai Turkstream vốn đã bị Mỹ-NATO-EU ép Thổ Nhĩ Kỳ phải loại bỏ. Đây là đường ống dẫn khí tự nhiên sẽ đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào làm chủ trung tâm năng lượng lớn nhất phía nam của châu Âu.
Đừng coi thường, điều này là rất lớn. Đây là một cú đánh lớn đến kế hoạch của Washington trong việc kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng chảy vào châu Âu từ Trung Đông và châu Á để đảm bảo họ buộc phải sống bằng tiền đô la Mỹ.
Nếu thỏa thuận được triển khai, Nga có quyền truy cập vào các thị trường phát triển mạnh EU thông qua hành lang phía Nam sẽ tăng cường quan hệ giữa hai châu lục, mở rộng việc sử dụng đồng rúp và đồng euro trong giao dịch năng lượng, và tạo ra một khu vực thương mại tự do từ Lisbon đến Vladivostok.
Và lúc đó, chú Sam sẽ “được xem từ băng ghế dự bị”, sức mạnh “đô la-dầu lửa” đã bị hạn chế, còn Ukraine thì sẽ như “một con đĩ già” cho không cũng chẳng ai thèm, nên sẽ “tự đi vào khuôn khổ”.
Kế hoạch triển khai Turkstream đã quá rõ ràng cho nên Bulgaria vội vàng thành lập nhóm nghiên cứu với Nga về South Stream, sự việc mà cách đây không lâu Bulgaria, dưới áp lực của EU, đã thẳng thừng từ chối hợp tác với Nga. Điều này chứng tỏ EU bây giờ cũng không quản được thành viên của mình bởi hội chứng Brexit sẽ có Bulexit…
2, Giải pháp kết thúc cuộc chiến Syria. Thổ Nhĩ Kỳ phải có một nỗ lực để đóng cửa biên giới, ngăn chặn các chiến binh Hồi giáo qua lại và ra vào Syria, đáp lại, Nga bằng quyền lực của mình sẽ ngăn chặn sự xuất hiện của một nhà nước độc lập của người Kurd trên biên giới phía nam của Thổ Nhĩ Kỳ.
Nếu như Thổ Nhĩ Kỳ quyết tâm thực hiện thì coi như không chỉ IS mà ngay cả lực lượng “ôn hòa” cũng không còn đường sống khi “động mạch chủ bị cắt”. Trục Ankara-Tehran-Damascus sẽ là trục ổn định cho Trung Đông hoặc ít nhất khống chế được sự “hỗn loạn”. Hòa bình cho Syria, tránh cho Syria trong tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ như Lybia, sẽ có hy vọng đạt được trong tương lai gần.
Thứ hai là xác định vai trò, vị trí Thổ Nhĩ Kỳ với Nga, cùng Nga trong tương tác mới trên bản đồ địa chính trị thế giới.
Quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Syria, quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Trung Quốc, quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Nga và quan hệ Thổ Nhĩ Kỳ-Iran sẽ thay đổi. Điều này sẽ thay đổi thế giới.
Bắt đầu từ đây, Nga đã đi những nước cờ sắc sảo, bình tĩnh, chắc chắn từng nước một để phá nát NATO. Hiện tại, “mắt xích Thổ Nhĩ Kỳ” của NATO bị đứt thì hệ thống phòng thủ của Nga tại Biển Đen không còn bị áp lực, đã tạo điều kiện cho Nga vươn tay ra các khu vực khác.
Có thể nói, đảo chính quân sự bị thất bại chỉ là “giọt nước cuối cùng” để dẫn đến việc bình thường hóa quan hệ Nga-Thổ Nhĩ Kỳ mà hợp tác Nga-Thổ Nhĩ Kỳ trên 2 vấn đề đã nêu trên là một cú chấn động địa chính trị mạnh nhất kể từ vụ Liên Xô sụp đổ.
Chưa biết trục Mỹ-NATO-EU sẽ đối phó ra sao, nhưng sự chuẩn bị của Thổ Nhĩ Kỳ để đối phó với đảo chính quân sự lần 2 và “cách mạng màu” có thể xảy ra đã chứng tỏ một nhận thức rằng, Mỹ-NATO-EU không đời nào để yên.
Đang có một cuộc cách mạng lớn trong lòng Thổ Nhĩ Kỳ sau đảo chính. Ngay cả ông Erdogan cũng bớt độc đoán, hết ngạo mạn thường thấy, tất cả là nhằm tập trung vào mục tiêu đoàn kết dân tộc để chống thù trong giặc ngoài đang rình rập đe dọa, mà chúng ta sẽ biết sau đây.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

Đừng dại thách thức với nước Mỹ!


Trên bàn cờ Trung Đông, Mỹ, Nga là người chơi chứ không phải là Thổ Nhĩ Kỳ.
Mỹ là cường quốc số 1 thế giới, Mỹ đã bá chủ thế giới kể từ khi Liên Xô tan rã đến nay. Vì thế, trong quan hệ quốc tế, Mỹ không có bạn mà chỉ có hoặc là các quốc gia chư hầu, tôi tớ hoặc là kẻ thù. Đó là một thực tế logic khách quan.
Nếu như các cuộc chiến tranh nóng do Mỹ trực tiếp tiến hành sau chiến tranh lạnh kết thúc, đều được cho là nhằm vào các quốc gia thù địch, “chứa chấp khủng bố” như Iraq, Lybia…khiến người ta đang hồ nghi, thì cuộc đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ đã khẳng định điều đó.
Mỹ-NATO ra tay!
Đảo chính hay “cách mạng màu” tại các nước thành viên khối NATO hay châu Âu là thường thấy và đều có “dấu vân tay” của Mỹ gần như là sự công nhận mặc nhiên. Tuy nhiên, đảo chính quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ có những điểm đặc biệt, hy hữu.
Thứ nhất, có 3 trong số 5 trung đoàn lính Thổ Nhĩ Kỳ thuộc “Quân đoàn phản ứng nhanh của NATO” tham gia đảo chính.
Thứ hai là Trung tâm chỉ huy đảo chính lại là từ căn cứ quân sự của NATO đặt trong lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ, căn cứ không quân Incirlik.
Thứ ba, do đó, kết luận rút ra là chính NATO-Mỹ thực hiện đảo chính quân sự nhằm vào một thành viên chủ chốt của NATO được xếp thứ 2 sau Mỹ về lực lượng.
Đó là lý do vì sao ngoài việc thanh trừng quân đội (chủ yếu là thành phần thân NATO), ông Erdogan cho lực lượng bao vây, khống chế căn cứ không quân của Mỹ-NATO Incirlik.
Incirlik là một trong 6 căn cứ quan trọng của NATO là trung tâm chỉ huy đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Ai chỉ huy NATO? Dĩ nhiên là Mỹ. Nếu như ai đó chưa tin Mỹ dùng NATO để khống chế châu Âu, NATO là cái gậy chỉ huy của Mỹ, là công cụ để Mỹ bá chủ thế giới và nếu ai còn hoang tưởng NATO “bảo vệ châu Âu”…thì cú đảo chính quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhằm vào một quốc gia có lực lượng quân sự hùng hậu chỉ sau Mỹ là một sự cảnh cáo nghiêm khắc cho bất cứ thành viên NATO nào, kể cả Pháp là quốc gia có VKHN.
Điều 1, mọi thành viên NATO đều phải tuân thủ chỉ huy của Mỹ (vì Mỹ có hàng chục căn cứ quân sự trên khắp châu Âu, Mỹ bỏ ra hơn 75% ngân sách nuôi NATO không phải là vô dụng).
Điều 2, nếu chính phủ nào không tuân thủ thì sẽ bị “cách mạng màu” hoặc bị đảo chính hoặc bị Mỹ coi là kẻ thù. Chấm hết.
Thời gian gần đây, việc Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận ra sai lầm khi bị NATO biến thành tên lính xung kích đối đầu với Nga, trong khi Mỹ-NATO bất chấp lợi ích quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ; việc ban lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đứng đầu là Tổng thống Erdogan muốn thực hiện một chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ…đã thách thức đến lợi ích Mỹ đi chệch hướng chỉ huy của Mỹ đã khiến Mỹ ra tay “muốn giết chết Erdogan” như Thổ Nhĩ Kỳ đã công khai tố cáo. Nhưng chỉ vậy thôi thì chưa phải là bài học mà Mỹ muốn dạy cho tất cả.
Tờ báo Yenissafak (1) của Thổ Nhĩ Kỳ đã công khai cáo buộc, phanh phui kế hoạch đảo chính ngày 15/7 của Mỹ “khủng khiếp, hoành tráng” hơn nhiều khi tung ra lời khai của một trong những kẻ cầm đầu đảo chính bị bắt.
Theo Yenisafak, đây là kế hoạch “xâm lược đa quốc gia” (bao gồm 8-10 ngàn quân IS và các lực lượng được Mỹ-phương Tây hậu thuẫn, nuôi dưỡng tại Iraq, Iran, Syria…hơn 50 ngàn quân) được vạch ra và chỉ huy phối hợp tổ chức thực hiện tại căn cứ không quân Incirlik Adana Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài trong 12 tuần, nhằm biến Thổ Nhĩ Kỳ thành một Syria thứ 2, Istanbul sẽ ly khai và kiểm soát, khống chế eo biển Bosporus.
Rõ ràng, âm mưu này rất trùng khớp với kiểu “sản xuất nội chiến”, “chế biến hỗn loạn” của Mỹ-phương Tây tại Trung Đông và nhiều nơi trên thế giới mà chúng ta đã chiêm ngưỡng.
Thỗ Nhĩ Kỳ, hãy đợi đấy!
Đáng tiếc là kế hoạch bước đầu tiên là “giết chết Erdogan” không thành, khiến cho các bước tiếp theo không dám manh động. Cuộc đảo chính quân sự được coi là thất bại. Hiệp 1, thế lực bên ngoài, bên trong bên đảo chính chủ quan, nhao lên tấn công bị phản đòn thủng lưới nhưng vẫn còn hiệp 2.
Lớp bụi sau đảo chính tại Thổ Nhĩ Kỳ chỉ mới lắng xuống, điều đó có nghĩa là chỉ cần có gió, cấp gió bao nhiêu là đám bụi sẽ mù mịt bốc cao bấy nhiêu mà thôi.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, do chính sách đối ngoại sai lầm “chơi với rất nhiều dao” của Ankara, như hợp tác cả với IS, là nơi trung chuyển, tập kết lực lượng thánh chiến khủng bố…cho nên, những “con sói độc” không chỉ có “1 chân trong nhà” mà để cả “4 chân trong nhà”.
Ngoài ra, là một thành viên NATO lâu năm, khác với Ukraine, ảnh hưởng của Mỹ-phương Tây trong hệ thống chính trị và quân đội Thổ Nhĩ Kỳ là rất lớn. Tuy nhiên, nó còn đi xa hơn thế. Sự tiếp xúc lâu dài với ảnh hưởng từ Hoa Kỳ có nghĩa là ngày nay, nhiều thành phần cốt lõi của xã hội Thổ Nhĩ Kỳ, ít nhất là tầng lớp trí thức, đã bị đồng hóa theo hình ảnh ông chủ của họ: những kẻ “tạo ra hiện thực” ở Washington và Wall Street.
Vì thế, dù Erdogan có thanh trừng bao nhiêu cũng không thể một lúc gột sạch hết ảnh hưởng của Mỹ-PT trong quân đội, xã hội…và do đó, Erdogan thừa biết, đảo chính lật đổ ông ta thực hiện còn dễ dàng, thuận lợi hơn Mỹ-phương Tây đã làm ở Ukraine nhiều lần.
Đừng dại đùa với nước Mỹ, Mỹ chỉ lợi dụng được Thổ Nhĩ Kỳ chứ Thổ Nhĩ Kỳ không lợi dụng được Mỹ, ăn chia sẽ không bao giờ đều và khi cần thiết, Mỹ sổ toẹt cái gọi là lợi ích quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ như thường. Kết thân làm chư hầu với Mỹ thì dễ, nhưng rứt ra là hơi bị khó đấy.
Erdogan giờ biết rằng, ông ta có sự ủng hộ của đa số dân chúng, nhưng con đường chuyển đổi từ vị trí tay sai của NATO sang một quốc gia có nền đối ngoại độc lập, tự chủ, sẽ đầy chông gai, và chắc chắn Mỹ-phương Tây sẽ sử dụng mọi phương án mà họ có để hạ gục Erdogan và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ.
 Sau đảo chính là thanh trừng…Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang như con cua trong thời kỳ lột vỏ. Tồn tại, giữ nguyên tỷ số trong hiệp 1 hay bị đánh bại chung cuộc phụ thuộc vào lèo lái tỉnh táo, sáng suốt của Erdogan.

Chúng ta sẽ quan sát, phân tích, những bước đi tích cực, tỉnh táo của Erdogan cùng với Bộ tham mưu của ông ta trong kỳ tới.

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2016

Phản ứng của Nga sau phán quyết của PCA?


Mối quan hệ quốc tế tay ba giữa Việt Nam-Trung Quốc-Nga trong thời gian gần đây đã khiến dư luận Việt Nam quan tâm. Nhiều câu hỏi, nghi ngờ đặt ra trong đó chủ yếu là mối quan hệ hiện nay Việt Nam-Nga như thế nào? Nga ủng hộ quan điểm, lập trường của Trung Quốc và đang chống Việt Nam trên Biển Đông?...
Không ít người cho rằng lập trường của Nga về Biển Đông là ủng hộ Trung Quốc và thậm chí có học giả còn nêu “Cảnh giác trên Biển Đông sau tuyên bố Trung-Nga” hoặc “Trong tâm khảm người Việt, dân tộc Nga, con người Nga văn hóa Nga vẫn thấm đẫm nhân hậu và yêu thương. Chỉ có điều, chính trị dường như đã đổi thay”…
Vậy lập trường quan điểm Nga về Biển Đông ra sao? Đặc biệt, sau phán quyết của PCA (coi “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là vô giá trị) thì Nga sẽ phản ứng như thế nào? Nga ủng hộ Trung Quốc bằng cách phản đối, không công nhận phán quyết hay im lặng?
Nga ủng hộ Trung Quốc hay Việt Nam trên Biển Đông?
Ủng hộ ai thì phải căn cứ vào lời nói và đặc biệt là hành động. Trước hết là về lời nói (tuyên bố về quan điểm, lập trường, biện pháp…) chúng ta lấy tuyên bố của ngài đại sứ Nga tại Việt Nam làm chuẩn mực về độ chuẩn xác.
 Đại sứ Nga tại Việt Nam ngài Konstantin Vnukov, cố gắng làm rõ quan điểm của nước này (Nga giữ lập trường rõ ràng về tranh chấp ở Biển Đông và không phải là quan điểm nước đôi) vì: “Trước thềm Tòa án Trọng tài quốc tế ở Hague ra phán quyết vụ kiện Biển Đông của Philippines vào ngày 12/7, các phương tiện truyền thông của một số quốc gia cố tình xuyên tạc quan điểm của Nga về vấn đề Biển Đông”.
Quan điểm Nga có 4 điểm cần chú ý:
Thứ nhất: Nga có lợi ích quốc gia ở Biển Đông và Việt Nam.
Thứ hai: Chống quân sự hóa Biển Đông.
Thứ ba: Tất cả các vấn đề trong khu vực được giải quyết bằng các biện pháp chính trị và ngoại giao, thông qua đàm phán giữa các nước có tranh chấp. Lối thoát tốt nhất và duy nhất ra khỏi tình trạng này là việc tổ chức cuộc đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cụ thể, đó là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các tài liệu đã được thảo ra giữa các nước ASEAN và Trung Quốc. Trên cơ sở các tài liệu này nên tìm kiếm những giải pháp mà các bên đều có thể chấp nhận được.
Thứ tư: Phản đối quốc tế hóa tranh chấp, chống lại sự tham gia của các bên không liên quan trực tiếp đến cuộc tranh chấp này.
Chúng ta lần lượt phân tích để hiểu bản chất tuyên bố Nga. Riêng điểm thứ nhât để sau cùng vì liên quan đến phản ứng của Nga sau phán quyết của PCA
Thứ nhất, Nga chống lại hành động quân sự hóa Biển Đông. Vậy quan điểm này Nga chống ai? Ai đang bị tố cáo là đã đang bồi lấp các đảo nhân tạo, đưa vũ khí trang bị ra đảo…để quân sự hóa Biển Đông? Đương nhiên không phải là Việt Nam.
Thứ hai, Nga muốn giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình thông qua đàm phán song phương, đa phương, trên cơ sở những thỏa thuận giữa ASEAN-Trung Quốc và pháp luật quốc tế UNCLOS.
Nên hiểu rằng, Tòa trọng tài thường trực ở The Hague (PCA) là một phần của UNCLOS. Khi dùng UNCLOS để giải quyết tranh cãi thì không thể thiếu PCA. Đây là điều mà không cần nói rõ ra ai cũng hiểu, thế nhưng có những bài báo khi trích dẫn đã cố tình cắt mất nội dung khiến người đọc hiểu lầm tai hại.
Chẳng hạn, người ta trích dẫn về quan điểm Nga để phân tích chủ đề “Sự thật vẫn rất mù mờ” bằng những đoạn ngắn không hết ý, bị cắt cụt…như sau: “Tất cả các vấn đề trong khu vực được giải quyết bằng các biện pháp chính trị và ngoại giao, thông qua cuộc đàm phán giữa các nước có tranh chấp” (chấm hết) hay “Lối thoát duy nhất là đàm phán” (chấm hết).
Với cách làm thiếu thiện chí, hoặc “kém chuyên môn” cho nên, họ cho rằng “Nga đã công khai đòi gạt cơ quan tài phán quốc tế về UNCLOS (PCA) ra ngoài trong bối cảnh phán quyết của PCA đã sắp cận kề”…vì Nga đã chấp nhận phương án do Trung Quốc chuẩn bị sẵn: “Tất cả các tranh chấp liên quan cần được giải quyết thông qua đàm phán”.
Thứ ba là Nga chống “quốc tế hóa tranh chấp” chứ không chống “quốc tế hóa” Biển Đông.
“Quốc tế hóa tranh chấp” là vấn đề thuộc về phạm trù “quốc tế hóa Biển Đông”.
Biển Đông là rộng lớn do đó mọi hoạt động trên Biển Đông như tranh chấp, an toàn hàng hải, tự do hàng hải, hàng không…đều có tầm ảnh hưởng đến khu vực và thế giới. Vì thế những vấn đề nào chỉ liên quan đến 2 nước thì song phương giải quyết (Việt Nam-Trung Quốc phân định Vịnh Bắc Bộ), thuộc về nhiều nước thì đàm phán đa phương…nhưng tất cả trên cơ sở luật pháp quốc tế cụ thể là UNCLOS, đó là quan điểm nhất quán của Việt Nam về “quốc tế hóa’ Biển Đông.
Quốc tế hóa tranh chấp thực chất là sự can thiệp của bên thứ 3, của nhóm, của thế giới vào tranh chấp. Nga chống lại quan điểm này vì những điểm nóng trên thế giới như Ukraine, Trung Đông, Syria…vì sự can thiệp của nhiều bên, nhiều quyền lợi, đã khiến cho tình hình be bét, hỗn loạn như chúng ta đã thấy và cũng nhằm vào Mỹ khi không muốn Mỹ nhảy vào Biển Đông sẽ tạo ra một tiền lệ không hay cho việc tranh chấp giữa Nga và Nhật Bản trên quần đảo Curil.
Tuy nhiên, quan điểm của Việt Nam về “quốc tế hóa tranh chấp” trên Biển Đông thì Việt Nam OK hay NO đều có lựa chọn. Chẳng hạn, Việt Nam sẽ OK nhóm G7 can thiệp để buộc Trung Quốc phải tuân thủ phán quyết PCA nhưng sẽ NO hoặc không cần thiết khi cùng tuần tra quần đảo Trường Sa trên Biển Đông với Mỹ…
Do đó việc Nga chống quốc tế hóa tranh chấp là chống sự can thiệp của G7…là không đồng quan điểm với Việt Nam nhưng chẳng khiến Việt Nam tổn thương vì G7 cũng chẳng làm được gì dể buộc Trung Quốc tuân thủ phán quyết của PCA.
Hiện tại, trước phán quyết của PCA, trên Biển Đông chưa có quốc gia nào thuộc bên thứ 3 xía vào tranh chấp. Mỹ tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền, điều này được chứng minh ở vụ Scarborough, dù Philipines là đồng minh.
Phản ứng của Nga sau phán quyết PCA là gì?
Thực ra hỏi điều này là ngớ ngẩn, không am hiểu thời cuộc, vì không việc gì phải hỏi.
Trở lại vấn đề đầu tiên, Nga tuyên bố có lợi ích ở Biển Đông và Việt Nam.
Một trong  34 “Thành phố dầu khí” Việt – Nga trên Biển Đông
Nga hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam từ năm 80 của thế kỷ trước.
Bắt đầu từ khi Trung Quốc trỗi dậy, hung hăng tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông. Theo đó, đã không ít các học giả, tướng tá Trung Quốc đòi biến Biển Đông thành biển lửa khi tấn công các giếng dầu mọc lên như thành phố trên biển của Việt Nam-Nga.
Hành động đó của Trung Quốc khiến cho một số công ty khai thác dầu khí nước ngoài hợp tác với Việt Nam như của Anh, Mỹ, Ấn Độ lo sợ im lặng rút lui. Liên bang Nga thì sao?
Các mỏ dầu khí trong thềm lục địa và EEZ của Việt Nam được Nga-Việt tiếp tục phát hiện, khai thác mặc cho Trung Quốc thông qua các “hỏa lực mồm” gào thét đe dọa…
Hợp tác quốc phòng Việt Nam-Nga có độ tin cậy cao. Vũ khí Nga được bán cho Việt Nam để phòng thủ biển gồm những thứ tiên tiến hiện đại nhất đủ sức răn đe thế lực thù địch.
Như vậy, Nga và Việt Nam (đương nhiên) đã sổ toẹt cái “đường lưỡi bò” từ khi mới hình thành chứ đâu phải chờ đến phán quyết của PCA, đúng không?
Ở vào chiến lược toàn cầu, Nga không muốn Trung Quốc, Mỹ làm chủ Biển Đông, Nga muốn hợp tác với ASEAN, cho nên, không có Việt Nam thì Nga vẫn không muốn “đường lưỡi bò” của Trung Quốc thành hiện thực.

Vì thế, nếu như Trung Quốc tuyên bố “Trung Quốc không biết, không quan tâm đến phán quyết của PCA” thì Nga việc gì phải biết, phải quan tâm đến điều này. Chắc chắn là như thế.

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2016

Tại sao tàu sân bay Mỹ dám nghênh ngang “trước mũi” Trung Quốc?


Một khi Trung Quốc đã không dám bắn chìm tàu sân bay Mỹ thì hạm đội tàu sân bay Mỹ luôn là một lực lượng răn đe mạnh, có hiệu quả.
Việc Mỹ đưa 2 hạm đội tàu sân bay đến Biển Đông tập trận, diễu võ dương oai đã có rất nhiều phân tích phán đoán mục tiêu của hành động này.
Đa phần đều cho rằng, đó là hành động răn đe Trung Quốc trước lúc PCA phán quyết vụ Philipines kiện Trung Quốc mà theo dự kiến phán quyết có lợi cho Philipines.
Vậy phán quyết PCA thì có gì ghê gớm mà khiến Trung Quốc quẫn lên, hung hăng như thế?
Trung Quốc là nước lớn, đang ôm mộng bá chủ thế giới, có quyền lực xoay chuyển địa cầu thì có sợ ai, cho nên, cái tuyên bố của Tòa trọng tài thường trực UNCLOS (PCA) chả là cái giá trị gì với Trung Quốc.
Ngay như nghị quyết của HĐBALHQ mà một số quốc gia nhỏ, khi nghị quyết đó không đáp ứng lợi ích quốc gia, họ vẫn bỏ qua như không nữa là Trung Quốc, nữa là PCA…
Vì thế hy vọng Trung Quốc tuân thủ cái phán quyết của PCA là hoang tưởng.
Tuy nhiên, phán quyết của PCA trong vụ Philipines kiện Trung Quốc có một đặc biệt lưu ý là, nó phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông về mặt pháp lý, cho nên, nó cung cấp cho không chỉ Philipines mà toàn bộ khu vực Biển Đông và thế giới có một quan điểm chung, một góc nhìn rõ về cái chủ quyền trong “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tuyên bố, rằng: Nó chỉ có được khi chỉ khi cướp đoạt, chiếm đoạt.
Điều này có nghĩa là sau khi phán quyết (nếu phán quyết “đường lưỡi bò” là vô giá trị) thì mọi hành động của Trung Quốc mang tính thực thi pháp luật trên vùng biển này được coi là vi phạm luật pháp quốc tế, được coi là hành động đe dọa đến an toàn, tự do hàng hải.
Chỉ thế thôi. Trung Quốc tôn trọng phán quyết hay không thì tùy, vì chẳng ai có đủ tài lực để bắt Trung Quốc thực thi, nhưng liệu Trung Quốc đã đủ tài lực bá chủ thế giới chưa để công khai thách thức luật pháp quốc tế, thách thức an toàn tự do hàng hải…thì Bắc Kinh phải “suy nghĩ 2 lần”.
Do đó, phán quyết của PCA nó như con virus độc, gây nguy hiểm cực lớn với “phần mềm” ý đồ bành trướng chủ quyền Trung Quốc, cho nên, lo lắng, tức tối, khó chịu…là đương nhiên. Chắc chắn phản ứng của Trung Quốc sau phán quyết là tiêu cực để thách thức phán quyết của PCA.
Trung Quốc sẽ tuyên bố ADIZ trên Biển Đông? Sẽ bồi lấp Scarborough? Hay tung hết toàn bộ Lực lượng Hải cảnh ra họa động nghênh ngang trên Biển Đông, tuần tra, khiêu khích…để cố chứng tỏ họ đang thực thi pháp luật Trung Quốc trên vùng biển mà họ tuyên bố chủ quyền, thách thức cái phán quyết của PCA coi tuyên bố chủ quyền của họ là vô giá trị?
Mọi phản ứng tiêu cực của một Trung Quốc đang trỗi dậy đều có thể xảy ra mà ở đây, chúng ta không bàn đến. Chúng ta chỉ quan tâm về góc độ quân sự việc Mỹ điều 2 hạm đội tàu sân bay đến Biển Đông.
Mục đích Mỹ điều 2 hạm đội tàu sân bay (CSG) đến Biển Đông tập trận này nọ thực chất là bảo vệ an toàn tự do hàng hải mà Mỹ, với vai trò là một cường quốc Châu Á-Thái Bình Dương đang đề cao và cổ súy.
Hành động của Mỹ là thách thức, răn đe Trung Quốc vì phản ứng tiêu cực của Trung Quốc (như đã dẫn ở trên) có thể xảy ra sau phán quyết PCA là thách thức, đe dọa đến an toàn tự do hàng hải.
Vậy, liệu tàu sân bay Mỹ có đủ sức răn đe Trung Quốc như ngày nào trong đợt khủng hoảng eo biển Đài Loan năm 1996? Liệu Mỹ có coi thường chiến lược A2/AD trứ danh của Trung Quốc đã đang triển khai?
Ngay như Hải quân Trung Quốc, muốn tiêu diệt được một hạm đội tàu sân bay Mỹ thì phải mất 40% lực lượng (tính toán của chuyên gia quân sự Nga), hoặc như tuần dương hạm lớp Ticonderoga (thuộc CSG) có thể phóng một loạt 122 quả tên lửa phòng không. Các chuyên gia Trung Quốc đã tính phải cần 150 đến 200 máy bay SU-27 của Trung Quốc đánh “hội đồng” mới diệt được chiến hạm này.
Để đối phó với chiến thuật A2/AD Mỹ đã có chiến thuật tác chiến không-biển. Tuy nhiên, A2/AD mới được biết được trên lý thuyết, quảng cáo, chưa thấy “sát thủ diệt tàu sân bay” DF-26, hay DF-31 thử mục tiêu bao giờ, trong khi đó CSG của Mỹ là thật.
Như vậy, rõ ràng Hạm đội tàu sân bay Mỹ (CSG) có một sức mạnh khủng khiếp mà không có một lực lượng đối đầu nào thắng được nó trừ phi bắn chìm được tàu sân bay. Đó là một thực tế quân sự đơn thuần.
Tàu sân bay là biểu tượng của sức mạnh quốc gia. Dễ nhận thấy, trên thế giới này, trừ Nga ra là Mỹ không dùng hạm đội tàu sân bay để de dọa, uy hiếp, vì trên thế giới này, ngoài Nga ra, không một quốc gia nào dám bắn chìm tàu sân bay Mỹ.
Với Trung Quốc, trong chiến lược A2/AD, bằng hệ thống tên lửa các loại, Trung Quốc, cứ cho là có thể bắn chìm tàu sân bay Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc có dám bắn chìm hay không lại là chuyện khác.
Chưa kể hàng tỷ đô la tài sản, tàu sân bay Mỹ chứa gần 6000 binh sỹ. Trung Quốc có dám dùng một quả tên lửa DF-26 hay DF-31 gì đó như quảng cáo để diệt gọn 6000 quân Mỹ không? Câu trả lời là “KHÔNG”.
Vì sao vậy? Vì Trung Quốc không có đủ khả năng đối phó với hậu quả.
Bản thân tàu sân bay chính là sự răn đe, nó như một “Trân Châu Cảng” di động. Động vào nó, bắn chìm nó cũng giống như khai trận “Trân Châu Cảng” buộc Mỹ sẽ vào cuộc với tất cả sức mạnh, quyền lực mà không loại trừ bằng đòn tấn công phủ đầu hạt nhân.
Năng lực tấn công và phòng thủ khi chiến tranh hạt nhân xảy ra thì Trung Quốc chỉ là cái móng tay so với Mỹ, sức răn đe hạt nhân của Trung Quốc với Mỹ không đủ trọng lượng để ngăn chặn Mỹ ngừng tay nhấn nút tấn công đòn phủ đầu.

Tàu sân bay Mỹ được vũ khí hạt nhân Mỹ “bảo kê”, cho nên, chừng nào Trung Quốc có tiềm lực hạt nhân như Nga để nếu xảy ra chiến tranh hạt nhân thì “cả hai cùng chết” mới khiến cái tàu sân bay Mỹ hết nghênh ngang, còn không thì hãy đợi đấy.

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016

Rút khỏi UNCLOS, Trung Quốc sẽ dùng “luật rừng”?


Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông khi không tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS thì chỉ có thể là biện pháp quân sự.
Luật pháp quốc tế trên biển có “tính lịch sử và truyền thống phải được tôn trọng” như tuyên bố của Mỹ, đó chính là UNCLOS.
Tranh chấp trên Biển Đông, tự do an toàn hàng hải trên Biển Đông phải luôn lấy UNCLOS để giải quyết mà ngay cả Mỹ-cường quốc quân sự, kinh tế số 1 thế giới, dù không phải là thành viên của UNCLOS cũng đã, đang tôn trọng, tuân thủ.
Điều gì sẽ xảy ra nếu như, Trung Quốc, một nước lớn thuộc bên tranh chấp, một nước lớn có sức mạnh quân sự hùng hậu, có tư tưởng bành trướng lại bất chấp luật lệ trong phương cách giải quyết?
UNCLOS dưới góc nhìn an ninh chủ quyền
Tuyên bố lãnh hải quốc gia là tuyên bố chủ quyền trên biển của quốc gia đó. Đây là mấu chốt vấn đề mà nhiều quốc gia từ việc tuyên bố lãnh hải của mình rộng bao nhiêu hải lý đến việc phê chuẩn để trở thành thành viên của UNCLOS hay không.
Trước khi có UNCLOS, tùy theo khả năng quốc phòng mà các quốc gia ven biển tuyên bố vùng lãnh hải của mình. Những nước có lực lượng hải quân hùng hậu thường tuyên bố lãnh hải hẹp, những nước yếu thì tuyên bố rộng hơn.
Với Trung Quốc. UNCLOS trước đây luôn là điều kiện và phương tiện để Trung Quốc bảo vệ an ninh chủ quyền.
Trong tình hình thế đang bị đẩy vào cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Mỹ đưa Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, can thiệp và đe dọa Trung Quốc thì ngày 4/9/1959, Bắc Kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý.
Cuộc khủng hoảng lần thứ 3 từ tháng 7/1995 đến ngày 11/3/1996. Mỹ cũng lập tức điều 2 nhóm tàu sân bay chiến đấu đi vào eo biển Đài Loan sẵn sàng quyết chiến, khiến Trung Quốc lùi bước, xuống thang để “tránh xung đột với Mỹ”.
Và chính thời điểm này, năm 1996, không còn cách nào khác, Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dù rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc thời đó thừa biết tại sao Mỹ không phê chuẩn UNCLOS và rất muốn cũng như Mỹ, bởi tư tưởng bành trướng, cậy mạnh vốn có của mình.
Như vậy, tuyên bố lãnh hải 12 hải lý và tiếp theo là phê chuẩn UNCLOS năm 1996 của Trung Quốc xảy ra chỉ khi khả năng quân sự của Trung Quốc không đủ sức ngăn cản được Mỹ trên eo biển Đài Loan, vùng biển này có nguy cơ mất an toàn khi Hải quân Mỹ tự tung tự tác.
Việc Trung Quốc phê chuẩn UNCLOS, dùng nó làm vũ khí đấu tranh, hạn chế được sự “tự do hàng hải” của Mỹ hoặc ít nhất làm cho Mỹ do dự, tính toán khi muốn “tự do hàng hải” kiểu Mỹ trong vùng biển thuộc điều chỉnh của UNCLOS mà Trung Quốc đã phê chuẩn.
Việt Nam cùng các quốc gia khác trên Biển Đông không muốn chiến tranh, muốn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên có sở luật pháp quốc tế và do đó cũng như Trung Quốc trước đây, UNCLOS chính là phương tiện và điều kiện để đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền.
Chính UNCLOS ngăn chặn dã tâm bành trướng chủ quyền của Trung Quốc về mặt pháp lý, nên thế lực diều hâu trong giới cầm quyền Bắc Kinh, khi cảm thấy có chút cơ bắp, lập tức phê phán các bậc tiền bối đã phê chuẩn UNCLOS, cho rằng đây là công ước “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc.
Sự “kiềm chế lợi ích” của Trung Quốc mà UNCLOS tạo ra chỉ có thể là bành trướng chủ quyền biển đảo.
Tình thế Biển Đông khi Trung Quốc rút khỏi UNCLOS
Vụ kiện của Philipines đang sắp đến giờ phán quyết có lợi cho Philipines, có nghĩa là cơ sở về tuyên bố “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là không có giá trị. Đây là một thắng lợi về mặt pháp lý và tất nhiên sẽ là trọn vẹn, lý tưởng hơn nếu như Trung Quốc tuân thủ phán quyết của Tòa.
Đáng tiếc là Trung Quốc đã cho thấy họ không bao giờ tuân thủ. Trung Quốc đã dùng rất nhiều cách để chống phá, trong đó đe dọa là sẽ rút khỏi UNCLOS.
Tàu sân bay Mỹ đến Biển Đông để “làm chỗ dựa cho Philipines” hay là để “làm mồi” cho Trung Quốc rút khỏi UNCLOS?
Việc Trung Quốc rút khỏi UNCLOS lợi, hại với Trung Quốc như thế nào là việc tính toán của Bắc Kinh. Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm là tình thế Biển Đông khi Trung Quốc rút khỏi UNCLOS.
Rút khỏi UNCLOS, Trung Quốc sẽ như Mỹ, không thuộc điều chỉnh của UNCLOS, lúc đó, Trung Quốc liệu có hành xử như Mỹ hay không?
Thực tế cho thấy, Mỹ không có tranh chấp vùng biển, đảo với ai và do đó chưa có quốc gia nào kiện Mỹ vi phạm UNCLOS. Không những thế, “Lập trường của Mỹ rất rõ ràng, rất đúng với luật biển. Mỹ muốn sự tự do hàng hải, hàng không, mang tính lịch sử truyền thống phải được tôn trọng” (Tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ tại Đối thoại chiến lược và kinh tế Trung - Mỹ ngày 7/6/2016).
Trong khi đó, Trung Quốc đang có tranh chấp trên biển với Nhật Bản, Việt Nam…ở Tây TBD thì liệu có biện pháp nào để giải quyết tranh chấp bằng hòa bình nếu như không có cơ sở pháp lý chung (UNCLOS) để xử lý?
Trong một cuộc tranh chấp mà không có luật lệ thì “ai mạnh nấy được” là cách thức, biện pháp giải quyết duy nhất buộc kẻ yếu chỉ có 2 sự lựa chọn hoặc là chiến tranh hoặc là đầu hàng. Vì vậy, rút khỏi UNCLOS là nguy cơ Trung Quốc sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để giải quyết tranh chấp.
Có thể nói, đây mới là sự nguy hiểm nhất, nguy cơ đe dọa đến an ninh chủ quyền của các quốc gia trong khu vực nhất, trong tình thế Trung Quốc tuyên bố rút khỏi UNCLOS.
Rút khỏi UNCLOS ngay sau phán quyết có nghĩa Trung Quốc tuyên bố chính thức công khai rằng, sẽ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp quân sự mà  bước đi đầu tiên rất dễ đoán là tuyên bố ADIZ trên Biển Đông.
Đến đây, chúng ta có thể hiểu rằng, khi có sự hung hăng, bất chấp, sẵn sàng dùng biện pháp quân sự của Trung Quốc thì các quốc gia trong khu vực, đặc biệt những quốc gia có tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông sẽ làm gì, đầu hàng hay đoàn kết liên minh với nhau, với Mỹ…?
Mỹ đã xoay trục sang Châu Á-Thái Bình Dương mà Biển Đông được coi như là một khu vực trọng điểm quyết chiến chiến lược cả về địa chính trị lẫn địa quân sự với Trung Quốc.
Càng hung hăng, bất chấp, Trung Quốc càng cô độc, càng dễ bị Mỹ đưa vào tròng.

May thay, Trung Quốc chưa đủ khả năng và thừa khôn ngoan để không mạo hiểm thách thức tất cả như vậy.

Brexit 'tự diễn biến hòa bình' kiểu Anh


Bất kỳ một nền dân chủ nào, tư sản hay vô sản cũng phải trong khuôn khổ, có định hướng để phục vụ cho mục đích của giai cấp. 
Trưng cầu dân ý để quyết định hướng đi của đất nước là hoạt động dân chủ với hình thức cao nhất. Tại đây, dân quyết định trực tiếp con đường phát triển của đất nước…mà buộc chính phủ, nhà nước, là cơ quan ăn tiền thuế của dân hay do dân, vì dân, theo từng cách gọi…phải thực hiện.
Do đó, trưng cầu dân ý, kết quả có giá trị cao, đúng, chính xác, nó phụ thuộc hoàn toàn vào dân trí.
Ở một đất nước có nền dân trí thấp thì phải luôn luôn lấy tư tưởng: “chân lý không thuộc số đông”, nhưng ở nước Anh, người dân có trình độ dân trí cao, có nền dân chủ lâu đời…thì khi đã trưng cầu dân trí thì kết quả của nó không phải là để đùa.
EU và chính quyền nước Anh “tá hỏa”
EU không muốn Brexit là đương nhiên bởi vì nước Anh có một vị trí kinh tế thứ 2 trong liên minh. Khi Anh rời EU thì lập tức EU không còn là một trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
Anh rời EU sẽ kéo theo một hệ lụy là các nước khác sẽ rời bỏ khi cần mà đã có dấu hiện xuất hiện tại 4 quốc gia, khiến nguy cơ tan vỡ EU không phải là trên lý thuyết.
EU như con thuyền lớn trong cơn dông bão thì vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm người Anh rời thuyền, lên con thuyền khác, bỏ lại đám thủy thủ lau nhau, rách nát, ốm yếu. Về cơ bản, nước Anh rời EU thì EU coi như mất hết sức sống.
Với nước Anh thì chính quyền đứng đầu là Thủ tướng David Cameron cũng không bao giờ muốn nước Anh rời bỏ EU.
Đừng tưởng rằng nước Anh đang yên đang lành mà ông Cameron lại “nổi hứng” bày ra việc nguy hiểm đến sinh mạng chính trị của mình như vậy. Có 2 lý do để khiến ông Cameron và bộ tham mưu của ông ta quyết định trưng cầu dân ý:
Một là do thủ đoạn chính trị, nên buộc ông Cameron phải hứa trưng cầu dân ý trong cuộc bầu cử vừa qua nếu ông trúng cử và sau khi trúng cử, dưới áp lực chính trị mạnh mẽ, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng di cư…buộc ông Cameron phải thực hiện lời hứa của mình.
Hai là chính phủ hiện tại không nghĩ rằng người dân Anh lại chọn rời EU vì họ tin tưởng chắc chắn rằng đa số người dân Anh sẽ bỏ phiếu ở lại EU nếu như khi trưng cầu dân ý.
Chính vì thế, sau khi có kết quả thì sốc, “tá hỏa”, đầu tiên chính là nước Anh. EU choáng váng, nước Anh không hối kịp, Thủ tướng Anh David Cameron tuyên bố từ chức để cho người đứng đầu khác lên làm thủ tục tách khỏi EU.
Rất nhiều người ân hận khi đã “đùa với lá phiếu” của mình và không khó hiểu ngay sau công bố kết quả thì có hơn 1 triệu người dân Anh ký yêu cầu đề nghị Trưng cầu dân ý lần 2.
Đây được coi như một cuộc “cách mạng màu” với phương thức “tự diễn biến” xảy ra tại nước Anh, quốc gia hùng mạnh có nền văn minh, dân chủ lâu đời trên thế giới mà không ai có thể ngờ tới.
Còn nước Mỹ? Rõ ràng là bất kỳ một nền dân chủ nào, hoạt động dân chủ nào mà không hợp với Mỹ thì đều bị Mỹ chống phá. Thế giới đã quá rõ hành xử của Mỹ với các quốc gia TBCN hay XHCN đang tiến hành cải cách dân chủ bị Mỹ lật đổ khi không hợp khẩu vị Mỹ.
 Chính thế cho nên, dù là nước Anh thì nước Mỹ cũng không chịu để yên trước một nền dân chủ kiểu Anh không hợp với dân chủ kiểu Mỹ, gây phương hại cho quyền bá chủ thế giới của Mỹ.
Sẽ ra sao nếu EU tan rã? Liệu có kéo theo nguy cơ tan vỡ NATO? Điều này thì Mỹ hiểu hơn ai hết, lo lắng hơn ai hết.
Sẽ ra sao nếu đây chỉ là một cái cớ để cải tổ lại EU? Nghị sỹ Quốc hội Pháp Nicolas Dyuik nói: “Châu Âu có thể không còn chức năng trong cùng một cách như trước đây, chúng ta không thể đứng trên ba chân - Nghị viện châu Âu, Ủy ban châu Âu và Hội đồng châu Âu. Trong quan điểm của tôi, Ủy ban châu Âu phải xóa bỏ vì Ủy ban châu Âu như tổ chức quân đồng minh được Mỹ thiết lập tại Pháp năm 1944 mà Tổng thống Pháp Charles de Gaulle dựa vào đó để chiến đấu”.
Hậu Brexits, ông Chủ tịch UB châu Âu Jeen-Claude Junker tuyên bố ông sẽ không từ chức. Đây là dấu hiệu cho thấy ít nhất Brexit nhắm vào mục tiêu nào.
Vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, Nghị viện và Hội đồng châu Âu chỉ là bù nhìn. Ủy ban châu Âu mới là “người của Mỹ cầm lái EU” như người Pháp đã tố cáo.
Giờ đây, lý do vì sao Mỹ ra lệnh cấm vận, trừng phạt Nga thì EU phải tuân thủ, dù kêu ca, dù “phải ghè đá vào chân” trong khi Mỹ gần như không bị thiệt hại đã được khẳng định rõ.
Nước Anh, người dân Anh không phải là dạng vừa, ít ra họ cũng đẻ ra trước người Mỹ. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 vừa qua, Đức, Pháp là kẻ bại trận, nhưng Vương quốc Anh thì không, nên Mỹ không thể đối xử với Anh như với Đức và Pháp…Brexit là kết quả “không có gì quý hơn độc lập, tự do” của người dân Anh.
Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu, bởi sau đây là những gì người Anh có thể lãnh đòn: Cục Dự trữ Liên bang, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Ngân hàng Nhật Bản, và George Soros sẽ quy tụ lại để tấn công vào đồng bảng Anh, dìm nó xuống và khủng bố các nền kinh tế Anh…nhằm mục đích trừng phạt người dân Anh, thuyết phục họ lá phiếu vừa qua là sai lầm, gây áp lực lên chính phủ hủy bỏ kết quả trưng cầu dân ý.
Vậy rồi ý chí của ai là mạnh nhất: của người dân Anh hay của CIA, One Percent (1% người giàu nước Mỹ) và EU? Hãy chờ!
Nước Nga trong cơn chấn động Brexit
Có rất nhiều quan điểm trái chiều về kinh tế, địa chính trị, của giới nghiên cứu khi phân tích tác động ảnh hưởng của Brexit đối với nước Nga. Bởi vì, xuất phát từ tầm nhìn vi mô, tầm vĩ mô, tầm nhìn ngắn hạn và tầm nhìn dài hạn…cho nên đó là điều có thể.
Vậy ở tầm vĩ mô, tầm dài hạn thì tác động của Brexit vào nước Nga sẽ như thế nào, xấu hay tốt?...
EU đang “hội đồng” cấm vận, trừng phạt nước Nga. Vậy khi EU bị yếu đi hoặc bị tan rã thì sự cấm vận nước Nga tự dưng bị bãi bỏ. Đồng thời hệ lụy tiếp theo là NATO tiến về phía Đông, bao vây Nga theo lệnh Mỹ ít nhất là khó thực hiện.
Đây là nguyên tắc và cơ sở chính để đánh giá tác động của Brexit đến nước Nga.
Trước hết xin trích lời của của Thủ tướng nước Anh David Cameron khi chĩa về nước Nga trong tuyên bố từ chức: “Việc nước Anh rời khỏi EU, lợi, hại sẽ được nếm trải ngoại trừ Vladimir Putin và người đứng đầu IS Abu Bakr al-Baghdadi. Chúng ta hãy tự hỏi: ai sẽ được hài lòng khi Vương quốc Anh ra khỏi EU? Tôi nghi ngờ rằng Putin hay Abu Bakr al-Baghdadi”.
Và đây là tuyên bố của Ngoại trưởng Anh Philip Hammond: “Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ vui mừng với kết quả của cuộc trưng cầu dân ý khi người dân Anh đã chọn rời khỏi EU, sự kiện có thể làm mềm các biện pháp trừng phạt chống Nga. Tôi nghi ngờ rằng ngày hôm nay, trong buổi sáng ông Vladimir Putin sẽ trải qua ít căng thẳng và cảm thấy tràn đầy năng lượng hơn”.
Còn đây là của cựu đại sự Mỹ tại Nga, ông Michael McFaul: Brexit là “một thắng lợi của chính sách đối ngoại của Putin”.
Những tuyên bố trên đây có vẻ như là cay cú với người Nga, nhưng...nếu vậy thì chẳng lẽ Nga cũng biết chơi món võ "cách mạng màu" như Mỹ và phương Tây? 

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Hai cửa ải quyết định vận mệnh quan hệ hợp tác Việt-Mỹ


Lòng tin giữa Việt Nam và Mỹ có được khi chỉ khi cả 2 bên thực sự “gác lại quá khứ”, “vượt qua khác biệt”.
Nếu như chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ là một bước đột phá vào mối quan hệ bị đóng cứng, tê liệt, thì chuyến thăm tiếp theo của Tổng thống Mỹ Obama đến Việt Nam là khai thông các huyệt đạo bị bế của mối quan hệ hợp tác Việt-Mỹ.
Quan hệ hợp tác Việt-Mỹ đã hết thời kỳ nói suông mà bước vào giai đoạn hành động. Hành động đôi bên như thế nào để chứng tỏ lòng tin trước khi đi vào “thi công” các hạng mục của mối quan hệ hợp tác là một thử thách khó khăn cho cả hai.
Quá khứ, Việt Nam có đủ bản lĩnh, đại nghĩa để gác lại không”? Còn sự “khác biệt, Mỹ, một cường quốc quân sự, kinh tế hàng đầu thế giới có đủ tự tin, kiêu hãnh để vượt qua? Đây là 2 vấn đề riêng biệt dành riêng biệt cho Việt Nam và Mỹ xử lý. 
Việt Nam thực sự “gác lại quá khứ”?
Quá khứ ở đây là cuộc chiến tranh Mỹ-Việt Nam, do đó, quá khứ không chỉ là của người Việt Nam mà còn là của Mỹ. Nhưng, quá khứ đau buồn này nếu như Mỹ chịu một thì Việt Nam chịu một trăm lần, cho nên, “gác lại quá khứ” được hay không, phụ thuộc chủ yếu vào nỗ lực của Việt Nam.
Quá khứ là lịch sử, luôn tồn tại khách quan như là trí nhớ của con người, của nhân loại. Nhớ quá khứ, lịch sử để phát huy những điều tốt đẹp nhưng quan trọng hơn đó là kinh nghiệm quý báu cho tương lai.
Quá khứ đau thương, tội lỗi, không thể quên, nhưng quên, hay không quên lại không quan trọng bằng làm gì, làm như thế nào để quá khứ đó không xảy ra trong tương lai, không ngăn cản sự phát triển cho tương lai. Đó chính là hãy tự tin “gác lại quá khứ”.
Hơn 2 triệu người Việt chết đói năm 1945, chúng ta không bao giờ quên. Chúng ta nhớ nó không phải để căm thù Nhật Bản từ đời này đến đời khác mà nhớ để biết nguyên nhân, hệ quả và thế hệ sau này của Việt Nam, Nhật Bản hãy làm gì để không bao giờ điều đó xảy ra.
Nếu như “Hội chứng chiến tranh (Việt Nam) trong lòng nước Mỹ” là tội lỗi, là mất mát, là thù hận, chưa dễ phai mờ thì hậu quả của cuộc chiến tranh đó để lại trong lòng Việt Nam còn nặng nề gấp hàng trăm lần so với Mỹ.
Do đó, “gác lại quá khứ” là một thử thách rất lớn cho Việt Nam, nó trở thành chỉ dấu, chỉ số, đánh giá lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.
Không phải ngẫu nhiên mà sau tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam thì vấn đề của TNS Bob Kerry lại khiến cho dư luận Việt Nam nổi sóng.
Người Mỹ đưa cho Việt Nam một bài test tinh tế, động đến một vấn đề rất nhạy cảm, để qua đó người Mỹ muốn từ Việt Nam một câu trả lời: Bạn đã thực sự gác lại quá khứ để hướng tới tương lai?
Rõ ràng, không thiếu gì người có thể thay ông Bob Kerry làm chủ tịch HĐQT trường ĐH Fullbright, nhưng nếu phải lựa chọn một ông Bob Kerry có quá khứ tội lỗi, sám hối, muốn làm gì đó cho Việt Nam và một ông Bob Kerry chống đối quyết liệt Việt Nam thì chúng ta chọn ai?
Tất nhiên, lựa chọn theo tình cảm, lý trí cá nhân sẽ khác với sự lựa chọn của những người mang trọng trách đại sự quốc gia.
Lịch sử quan hệ bang giao, vận nước có lúc như thời Lý Thường Kiệt, có lúc như Nguyễn Trãi và có lúc như Quang Trung Nguyễn Huệ…nếu lấy ứng xử bang giao với nước lớn phương Bắc, đặt từng bối cảnh đó vào hiện nay chắc “um xùm”, nhưng Việt Nam đâu có mất thần phong và khí phách.
Việt Nam đã trả lời bài test Mỹ cũng tinh tế không kém khi dành cho Mỹ một sự lựa chọn: “…phía Mỹ và lãnh đạo ĐH Fulbright sẽ có quyết định đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển quan hệ đang rất tốt đẹp giữa Việt Nam và Mỹ”.
Một thông điệp rất “tình tứ” và giờ đây “bóng đã đến chân người Mỹ”.
Mỹ có thực sự “vượt qua khác biệt”?
Thế giới này không chỉ có Việt Nam là quốc gia có sự “khác biệt” với Mỹ, nhưng trong khi mối quan hệ hợp tác của họ với Mỹ phát triển bình thường thì Việt Nam và Mỹ lại gặp trở ngại.
Nguyên nhân chính là Việt Nam và Mỹ đã từng xảy ra một cuộc chiến tranh khốc liệt mà Mỹ không đạt được mục đích đề ra, nói cách khác là Mỹ bị thất bại. Vì thế, với tư cách là một cường quốc đứng đầu thế giới thì Việt Nam là một vấn đề không dễ dàng để quên.
“Sự khác biệt” trong quan hệ Mỹ-Việt, không phải chỉ là khác cái này, cái kia…mà nó là vấn đề đụng chạm đến uy danh nước Mỹ, là điều khó chấp nhận của “nước lớn”, nói cách khác “sự khác biệt” tồn tại trên một nền tảng thù hận của nước Mỹ với Việt Nam.
Đó là lý do vì sao kể từ năm 1975 đến nay, Mỹ không từ một thủ đoạn nào để chống phá Việt Nam mà chúng ta đã thấy và chứng kiến.
Trái lại, với tư tưởng hòa hiếu trong bang giao của Việt Nam, thì “sự khác biệt” trong mối quan hệ hợp tác Việt Nam-Mỹ, Việt Nam rất dễ dàng vượt qua bởi lẽ đơn giản Việt Nam là nước nhỏ, muốn là bạn với Mỹ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi.
 Như vậy, “vượt qua khác biệt” là vấn đề chủ yếu dành cho Mỹ xử lý. Việt Nam không có ý tưởng và không có khả năng chống phá, bao vây, cấm vận, hay tiến hành cái gọi là “cách mạng màu” với nước Mỹ hoặc áp đặt dân chủ, nhân quyền kiểu Việt Nam vào Mỹ.
Và, cũng như “gác lại quá khứ” với Việt Nam, “vượt qua khác biệt” là một thử thách không dễ dàng với Mỹ.
Lòng tin giữa Việt Nam và Mỹ quyết định thành bại mối quan hệ hợp tác đôi bên. Lòng tin đó có được khi chỉ khi cả 2 bên thực sự “gác lại quá khứ”, “vượt qua khác biệt”.
Nếu như Việt Nam đã, đang thực sự “gác lại quá khứ” không chỉ bằng lời nói mà bằng hành động thì Mỹ đã hành động gì để chứng tỏ đã “vượt qua khác biệt”?

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ cũng những người có lương tri trên thế giới mong muốn Mỹ và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, phát triển, đang chờ đợi.